
(Nguồn: Thúy Hường)
Trong dòng chảy hiện đại và đô thị hóa nhanh chóng, việc nhìn lại các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là sự hoài niệm mà là hành trình xác lập căn cước văn hóa cho người trẻ. Dù học phần Phát triển đời sống văn hóa cộng đồng đã khép lại, nhưng dấu ấn và tinh thần từ môn học vẫn không đóng khung trong 1 môn học như các môn học khác…. Nhóm Tinh Hoa chúng tôi thuộc lớp 24DQLDS vẫn tiếp tục hành trình nghiên cứu thực tế về đề tài làng nghề truyền thống gắn với phát triển cộng đồng, cụ thể là “Nghề bánh tráng truyền thống Phú Hòa Đông”. Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn các tầng nếp sống và văn hóa bản địa Nam Bộ, nhóm đã chủ động đăng ký tham gia buổi triển lãm và tọa đàm chuyên đề “Hiền Nhân Mở Cõi” sáng ngày 24/10/2026 với sự hướng dẫn, đồng hành của TS. Phạm Văn Luân. Đây là chuỗi chương trình ý nghĩa thuộc Dự án “Nếp Nhà Xưa – Mạch Sống Người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp cùng Hội quán Các bà mẹ và Trung tâm Văn hóa Nếp Xưa tổ chức.
Không gian triển lãm với 4 lát cắt chủ đề: Theo đất và nước – Lập làng và dựng nhà – Dưới mái đình làng – Chuyện làng và chuyện nhà đã phác họa một hành trình khai hoang lập nghiệp đầy kiên cường của các bậc tiền nhân thuở mở cõi. Trong số các chia sẻ giàu tâm huyết từ các diễn giả như KTS. Tôn Thất Liêm (người từng tu nghiệp sau đại học về kiến trúc và quy hoạch đô thị tại Nhật Bản, Thụy Điển), nhà báo Phúc Tiến, KTS. ThS. NCS. Nguyễn Trần Trọng Nghĩa và nhiếp ảnh gia Minh Hòa, bài trình bày của KTS. Nguyễn Trần Trọng Nghĩa (Trường Đại học Kiến trúc TP. HCM) về cấu trúc kiến trúc và văn hóa đình làng người Việt từ Bắc chí Nam đã để lại trong tôi ấn tượng học thuật sâu sắc nhất.

Sự chuyển dịch từ bờ Bắc sông Gianh đến đồng bằng phương Nam
Bằng sơ đồ phân tích khung kết cấu gỗ (Structural Frame Pattern) và mặt đứng công trình qua các vùng địa lý, KTS. Nguyễn Trần Trọng Nghĩa đã chứng minh rõ nét sự biến đổi của ngôi đình theo từng điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử, trong đó:
Đình làng Bắc Bộ: Mang tính khép kín, bề thế, mái đình đồ sộ, độ dốc lớn uốn cong nhẹ ở góc mái tạo thế vững chãi, uy nghiêm như một thành trì văn hóa khép kín sau lũy tre làng.
Đình làng Trung Bộ: Bắt đầu có sự thanh thoát, kết cấu khung gỗ thích ứng với khí hậu khắc nghiệt, bão gió miền Trung; ảnh hưởng bởi nghệ thuật khảm sành sứ, hoa văn cung đình Huế.
Đình làng Nam Bộ – Sự khoáng đạt và linh hoạt:
Về mặt bằng kiến trúc: Đình Nam Bộ không còn giữ thế chữ Nhất, chữ Đinh hay chữ Tam gò bó như phương Bắc mà phổ biến dạng “trùng thềm điệp ốc” (nhiều nếp nhà ghép nối tiếp nhau bằng máng xối kép/hệ thống thoát nước), tạo thành một không gian mở liên hoàn gồm: Võ ca (sân khấu hát bội), Tiền điện, Chánh điện, Nhà khách, Nhà trù (nhà bếp).
Về hệ kết cấu và mái: Sử dụng hệ khung gỗ chịu lực vững chắc với hàng cột to, hệ vì kèo biến chuyển linh hoạt thích nghi với thổ nhưỡng sình lầy, sông rạch và khí hậu nhiệt đới nắng gió quanh năm. Mái đình Nam Bộ thường lợp ngói âm dương, bờ nóc trang trí Lưỡng long tranh châu, tượng gốm Cây Mai rực rỡ sắc màu

Điểm đặc biệt của Đình làng Nam Bộ so với miền Bắc và miền Trung
Nét cởi mở và bao dung (Dung hợp bởi tôn giáo và tín ngưỡng): Nếu đình Bắc Bộ thuần túy là nơi thờ Thành hoàng bảo an làng nước cùng tôn ty trật tự của Nho giáo phong kiến, thì đình làng Nam Bộ là biểu tượng của tinh thần hội tụ. Ở đó, ngoài Thần Thành Hoàng bổn cảnh, đình Nam Bộ còn tích hợp thờ cúng Bà Chúa Xứ, Ngũ Hành Nương Nương, Tiền hiền – Hậu hiền (những người có công khai khẩn, khai cơ), và dung nạp cả tín ngưỡng sông nước (Tượng thần cá Ông ở vùng ven biển).

Kết nối cộng đồng bình đẳng tại không gian đình Nam Bộ thoáng đãng, thân thiện hơn; không có sự phân biệt chiếu trên – chiếu dưới nặng nề như lệ làng phía Bắc. Ngôi đình gắn bó mật thiết với lễ hội Kỳ Yên, nơi người dân cùng đến dâng hương, xem hát bội, trao đổi tình làng nghĩa xóm – minh chứng sống động cho “nếp sống xưa” của người đi mở cõi.
Dấu ấn qua hệ thống các ngôi đình tiêu biểu như tư liệu được diễn giả tổng hợp và trình bày trên bản đồ di sản, vùng đất Nam Bộ sở hữu hệ thống đình làng vô cùng đặc sắc:
Tại TP. HCM và Đông Nam Bộ: Đình Thông Tây Hội (Gò Vấp – ngôi đình cổ bậc nhất TP. HCM), Đình Phú Nhuận, Đình Linh Đông, Đình Tân Lân, Đình Vĩnh Phong,…
Vùng Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long): Đình Phú Lế (Bến Tre cũ), Đình Long Thanh (Vĩnh Long), Đình Bình Thủy (Cần Thơ – kiệt tác kiến trúc giao thoa Đông – Tây), Đình Châu Phú (An Giang), Đình Định Yên (Đồng Tháp), Đình Tân Hưng (Cà Mau),…Tất cả tạo nên một dải lụa di sản kiến trúc tâm linh trải dọc sông Tiền, sông Hậu.

(Nguồn: Đức Huy)
Trải nghiệm văn hóa ẩm thực dân gian và không gian nếp xưa Nam Bộ
Bên cạnh những phân tích kiến trúc uyên bác, khu vực trưng bày và trải nghiệm ẩm thực dân gian Nam Bộ đã mang lại một điểm chạm giác quan đầy cảm xúc. Tại bàn ẩm thực truyền thống, hình ảnh TS. Phạm Văn Luân cùng ông Kiều Xuân Long… giới thiệu cho các du khách nước ngoài thưởng thức những thức quà quê mộc mạc như các món bánh gói lá, xôi sen, bánh tét và hoa trái miệt vườn đã phản ánh sinh động nếp sống hiếu khách, trọng nghĩa tình của con người phương Nam. Ẩm thực nơi đây in đậm dấu ấn của hành trình khẩn hoang lập ấp, vừa nuôi dưỡng con người vượt qua gian khó, vừa tôn vinh sự tài hoa, khéo léo trong cách ứng xử linh hoạt với nguồn sản vật tự nhiên trù phú.
Đặc biệt, ẩm thực dân gian luôn gắn bó mật thiết với thiết chế đình làng và đời sống tâm linh của cộng đồng. Ngôi đình Nam Bộ luôn có gian nhà trù để chuẩn bị các lễ vật dâng cúng thần Thành hoàng, Tiền hiền và Hậu hiền trong dịp lễ hội Kỳ Yên nhằm tạ ơn trời đất, cầu mong mưa thuận gió hòa. Sau phần nghi lễ trang nghiêm, tục “thụ lộc” đưa dân làng quây quần bên mâm cỗ chung tại sân đình, tạo nên không gian sinh hoạt bình đẳng, gắn kết tình làng nghĩa xóm. Kết hợp cùng các hiện vật áo bà ba, nón lá và chuyện lập chợ, bàn ẩm thực đã hoàn thiện bức tranh di sản: đình làng nâng đỡ đời sống tâm linh, còn ẩm thực và nếp nhà chính là mạch sống nuôi dưỡng văn hóa phương Nam trường tồn.

Lan tỏa giá trị di sản và góc nhìn nghiên cứu từ thực tiễn
Buổi tọa đàm thực tiễn mang đến nhiều ý nghĩa khoa học sâu sắc, đồng thời truyền nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho bản thân em về nghề và công cuộc bảo tồn văn hóa cha ông. Đáng chú ý, không gian văn hóa này không chỉ thu hút đồng bào trong nước mà còn nhận được sự quan tâm, thích thú đặc biệt từ bạn bè quốc tế. Câu chuyện về cô Victoria Ngọc một vị khách nước người Nga tình cờ đi ngang qua Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, vì thấy triển lãm quá đỗi cuốn hút nên đã bước vào tham quan, say sưa lắng nghe và tìm hiểu về cội nguồn người Việt. Hình ảnh một người ngoại quốc say mê ngắm nhìn nếp nhà xưa, đình làng xưa đã nhắc nhở chúng tôi về sức lôi cuốn nội tại của văn hóa dân tộc, đồng thời gợi mở trách nhiệm của người làm công tác di sản: không chỉ bảo tồn cho cộng đồng bản địa mà còn phải chủ động đưa các giá trị ấy vươn tầm quốc tế, lan tỏa nhiều hơn các sự kiện cho du khách tại các kênh truyền thông xã hội.
Đặc biệt, trong khuôn khổ sự kiện, đại diện nhóm sinh viên chúng tôi đã đứng trước diễn đàn để chia sẻ về định hướng đề tài nghiên cứu “Nghề bánh tráng truyền thống Phú Hòa Đông trong phát triển đời sống văn hóa cộng đồng”. Thật may mắn và vinh dự khi nhóm đã nhận được những lời khuyên, sự góp ý vô cùng quý báu từ các chuyên gia, diễn giả và nhà nghiên cứu tại buổi tọa đàm. Các ý kiến trao đổi về phương pháp tiếp cận làng nghề, cách kết nối chuỗi giá trị văn hóa với không gian cộng đồng và phát triển du lịch trải nghiệm đã giúp nhóm củng cố tư duy khoa học, tháo gỡ nhiều vướng mắc để hoàn thiện đề tài nghiên cứu một cách sâu sắc và khả thi hơn.


Là sinh viên chuyên ngành Quản lý Di sản Văn hóa và phát triển du lịch thuộc Khoa Di sản và Văn hóa Dân tộc (Trường Đại học Văn hóa TP. HCM) đang thực hiện đề tài liên quan, buổi tọa đàm không chỉ mang lại kiến thức về mặt khoa học, văn hóa mà còn đặt ra những trăn trở về sứ mệnh nghề nghiệp trong bối cảnh đương đại:
Một trong những nguy cơ của di sản hiện nay là tình trạng trùng tu sai lệch hoặc thương mại hóa quá mức làm biến dạng tính bản địa. Việc nắm vững kết cấu kiến trúc truyền thống (từ khung chịu lực, hoa văn gốm sứ đến bố cục không gian) cùng bản sắc phong tục tập quán giúp người làm quản lý di sản sau này có đủ tri thức để tham mưu, bảo tồn nguyên gốc và giữ gìn trọn vẹn cái “hồn” của di tích vì thế mà việc hiểu đúng giá trị trước khi khai thác rất qua trọng.
Gắn di sản với đời sống văn hóa cộng đồng: Ngôi đình hay làng nghề thủ công chỉ thực sự “sống” khi nó gắn bó mật thiết với cộng đồng cư dân bản địa. Sinh viên không chỉ nhìn di sản như một hiện vật trong bảo tàng, mà phải học cách kết nối cộng đồng, khơi dậy niềm tự hào và tái hiện các không gian thực hành văn hóa (như lễ Kỳ Yên, các hội thi tráng bánh, diễn xướng dân gian,….) ngay tại địa phương.
Ứng dụng công nghệ và đa dạng hóa phương thức quảng bá, thế hệ trẻ làm di sản cần chủ động ứng dụng công nghệ số như số hóa kiến trúc các ngôi đình Nam Bộ, xây dựng bản đồ số di sản, thiết kế các tour du lịch trải nghiệm văn hóa. Xây dựng những câu chuyện văn hóa chạm đến cảm xúc của du khách cả trong và ngoài nước, lý giải vì sao người Nam Bộ lại dựng đình mở, vì sao từng chiếc bánh tráng mộc mạc lại gói trọn nghĩa tình và mồ hôi của bao thế hệ khẩn hoang.
Buổi triển lãm và tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” đã truyền đến trong mỗi sinh viên chúng tôi niềm tự hào và tình yêu sâu nặng với di sản của tiền nhân. Không cần tìm kiếm xa xôi, bài học lớn nhất nằm ngay nơi cội rễ dân tộc: mỗi viên gạch, mái ngói, nhịp kèo của đình làng, mỗi nếp bánh tráng quê hương đều kết tinh mồ hôi, nước mắt và tinh thần quật khởi của các bậc hiền nhân thuở mang gươm đi mở cõi.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Ban tổ chức: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Hội quán Các bà mẹ, Trung tâm Văn hóa Nếp Xưa, cùng các đơn vị đồng hành và các diễn giả, nhà nghiên cứu đã tâm huyết kiến tạo nên một không gian văn hóa học thuật giàu giá trị. Xin cảm ơn TS. Phạm Văn Luân luôn hướng dẫn, dìu dắt và truyền lửa cho chúng tôi trong suốt hành trình học tập và nghiên cứu thực tiễn. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến các vị khách quý đến từ Ấn Độ, Nga, Pháp… – những người bạn yêu mến Văn hóa Việt Nam đã dành tình cảm rất tốt đẹp cho chương trình và văn hóa Việt…

(Nguồn: Nhóm NCDNVHNB)
Kính chúc các đơn vị sẽ tiếp tục duy trì và lan tỏa thêm nhiều chương trình ý nghĩa tương tự để gìn giữ mạch nguồn văn hóa Việt Nam. Chúng em rất mong mỏi và hy vọng sẽ tiếp tục được đồng hành, học hỏi ở những chuỗi hoạt động tiếp theo của Dự án.

Trần Đức Huy
Khoa Di sản và văn hóa dân tộc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dự án Nếp Nhà Xưa. (2026, 24–30 tháng 10). Triển lãm Hiền Nhân Mở Cõi: Theo đất và nước – Lập làng và dựng nhà – Dưới mái đình làng – Chuyện làng và chuyện nhà. Triển lãm chuyên đề. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
[2] Huỳnh Ngọc Trảng, & Trương Ngọc Tường. (1993). Đình Nam Bộ – Tín ngưỡng và nghi lễ. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Huỳnh Ngọc Trảng, & Trương Ngọc Tường. (1999). Đình Nam Bộ xưa và nay. Nhà xuất bản Đồng Nai.
[4] Nguyễn Đình Toàn. (2002). Kiến trúc Việt Nam qua các triều đại. Nhà xuất bản Xây dựng.
[5] Nguyễn Trần Trọng Nghĩa. (2026, 24 tháng 10). Căn cước kiến trúc và văn hóa đình làng người Việt từ Bắc chí Nam. Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” trong chuỗi dự án “Nếp Nhà Xưa – Mạch Sống Người Việt”, tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
[6] Phạm Anh Dũng, & Nguyễn Tri Long. (2014). Kiến trúc đình chùa Nam Bộ. Nhà xuất bản Xây dựng.
[7] Tản Mạn Kiến Trúc, & Nguyễn Chí Thanh. (2026). Sơ đồ biến thể khung kết cấu chịu lực của kiến trúc truyền thống từ Bắc sông Gianh đến Nam Bộ (Structural Frame Pattern). Tư liệu đồ họa trưng bày dựa theo nghiên cứu của Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản). Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi”, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.