Từ Khu 52 – xã Quảng Sơn đến An Nhơn Trà: Hành trình nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị trà hoa vàng Thạch Châu

Không chỉ tìm kiếm một sản phẩm trà mới, chuyến khảo sát của đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM gồm TS. Lê Thị Thanh Thủy,TS. Phạm Văn Luân, TS. Nguyễn Hồ Phong, Trần Thanh Toàn (tác giả bài viết), Nguyễn Trà My, Nguyễn Khánh Nitại xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng với sự tiếp đón, hướng dẫn và cung cấp thông tin thực địa của ông Võ Duy Quang – Chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ - Thương mại và Du lịch Tà Đùng và các thành viên trong HTX đang mở ra một câu chuyện rộng hơn cho đoàn nghiên cứu: từ nhận diện nguồn gen, bảo tồn những cá thể trà quý trong tự nhiên đến nghiên cứu, phát triển sản phẩm và tạo sinh kế gắn với tri thức bản địa.
aA

Hình 1: Đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM nghiên cứu Trà Thạch Châu hoa vàng tại Khu 52, xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng
Nguồn: Người dân địa phương, ngày 28/8/2026

TỪ MỘT CHUYẾN ĐI ĐẾN MỘT CÂU CHUYỆN PHÁT TRIỂN LÂU DÀI VỀ CÂY TRÀ BẢN ĐỊA

Trong hành trình tìm kiếm và lan tỏa những giá trị của văn hóa trà, mỗi vùng đất lại có thể mở ra một câu chuyện riêng. Với đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM, chuyến khảo sát thực địa này đã đưa sự quan tâm ấy đến một đối tượng đặc biệt: quần thể Trà hoa vàng Thạch Châu “Nữ hoàng trà” giữa rừng cao nguyên Lâm Đồngđang sinh trưởng tại khu vực rẫy rộng khoảng 50 ha do ông Võ Duy Quang quản lý.

Theo thông tin từ chuyến khảo sát, tại khu 52 ghi nhận khoảng 80 cá thể Trà hoa vàng Thạch Châu. Đáng chú ý, đây là những cây được phát hiện trong điều kiện tự nhiên, tạo ra một nguồn tư liệu thực địa có giá trị cho việc tiếp tục khảo sát, xác định đặc điểm sinh học, khả năng phát triển và giá trị của quần thể trà.

Hình 2: Đoàn nghiên cứu với cây Trà hoa vàng Thạch Châu khoảng 20 năm tuổi (từ phải hình, người thứ 2 – ông Võ Duy Quang đứng cạnh cây được nhắc đến)
Nguồn: Người dân địa phương, ngày 28/8/2026

Câu chuyện càng trở nên đáng chú ý khi cây Trà hoa vàng Thạch Châu được khảo sát tại đây được ước tính có tuổi đời khoảng 20 năm, dù kích thước đường kính thân chỉ tương đương khoảng 5cm. Từ quan sát này, những cá thể lớn hơn trong quần thể đặt ra câu hỏi cần được nghiên cứu nghiêm túc về tuổi đời, nguồn gốc và giá trị bảo tồn.

Hình 3: TS. Phạm văn Luân khảo sát gốc cây Trà hoa vàng Thạch Châu để tiếp tục nghiên cứu về khả năng công nhận Cây Di sản
Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026

Tuy nhiên, thay vì vội vàng đưa ra kết luận về khả năng công nhận Cây Di sản, đoàn nghiên cứu xác định cần tiếp tục điều tra, đo đạc, xác định tuổi và đánh giá toàn diện từng cá thể. Bởi theo các tiêu chí được công bố của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Cây Di sản không chỉ được xem xét dựa trên kích thước hay tuổi cây. Đối với cây tự nhiên, các tiêu chí kỹ thuật về tuổi, kích thước, hình dáng được đặt ra; đồng thời những cây không đạt tiêu chí kỹ thuật nhưng có giá trị đặc biệt về khoa học, lịch sử, văn hóa hoặc mỹ quan cũng có thể được xem xét. Chính vì vậy, quần thể Trà hoa vàng Thạch Châu tại Quảng Sơn trước hết có thể được xem như một đối tượng cần tiếp tục khảo sát và xây dựng hồ sơ khoa học, trong đó giá trị của cây không chỉ nằm ở tuổi đời mà còn ở tính đặc hữu, nguồn gen, môi trường sinh trưởng và mối quan hệ với cộng đồng địa phương.

KHI CÂY BỊ TRÓC GỐC TRỞ THÀNH LỜI CẢNH BÁO VỀ BẢO TỒN

Hình 4: TS. Lê Thị Thanh Thủy khảo sát và lấy mẫu (trái Trà hoa vàng Thạch Châu) ở cây bị tróc gốc để nghiên cứu
Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026

Một chi tiết đáng tiếc được ghi nhận trong chuyến khảo sát là cây Trà hoa vàng Thạch Châu lớn trong quần thể vừa bị tróc gốc. Sự việc này cho thấy một vấn đề quan trọng: giá trị của một nguồn gen quý chỉ thực sự được bảo vệ khi quá trình nhận diện và bảo tồn được tiến hành kịp thời. Đối với những quần thể thực vật mới được phát hiện hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ, việc ghi nhận hiện trạng ban đầu có ý nghĩa đặc biệt: cần xác định số lượng cá thể, kích thước, độ tuổi tương đối, tình trạng sinh trưởng, khả năng tái sinh tự nhiên và những tác động đang diễn ra trong môi trường sống của chúng.

Đồng thời, một nguồn tư liệu khác cũng không nên bị bỏ qua: tri thức bản địa. Những câu chuyện dân gian, cách người dân địa phương nhận biết cây, sử dụng lá hoặc hoa, thời điểm thu hái, kinh nghiệm chăm sóc hay những quan niệm liên quan đến loài trà đều có thể trở thành một phần quan trọng của hồ sơ nghiên cứu và bảo tồn.

Cây được bảo tồn không chỉ bằng việc giữ lại thân cây. Trong nhiều trường hợp, bảo tồn còn là giữ lại ký ức, tri thức và mối quan hệ giữa cộng đồng với cây. Đây cũng là tinh thần phù hợp với ý nghĩa rộng hơn của sáng kiến Cây Di sản Việt Nam: bảo tồn cây cổ thụ gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan và những giá trị văn hóa – lịch sử mà cây lưu giữ.

Hình 5: Lá và trái Trà hoa vàng Thạch Châu
Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026

TRÀ HOA VÀNG THẠCH CHÂU: TỪ MỘT PHÁT HIỆN THỰC ĐỊA ĐẾN CÂU HỎI KHOA HỌC

Điều làm cho câu chuyện tại xã Quảng Sơn không dừng lại ở một chuyến khảo sát chính là yêu cầu giải mã bằng khoa học. Các tài liệu nghiên cứu và khảo sát trước đây cho thấy Trà hoa vàng Thạch Châu đã được quan tâm tại tỉnh Lâm Đồng. Một bài viết của Báo Lâm Đồng năm 2020 ghi nhận các nghiên cứu về Trà hoa vàng Thạch Châu tại vùng Lâm Hà, trong đó các mẫu trà đã được phân tích thành phần hoạt chất tại một số cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước. Bài viết cũng đề cập đến việc nhân giống bằng giâm hom và gieo hạt, cho thấy hướng nghiên cứu – bảo tồn gắn với phát triển đã từng được triển khai đối với nguồn trà này.

Về mặt phân loại, Camellia murauchii Ninh & Hakoda là một loài thuộc chi Camellia, họ Theaceae; Kew Science ghi nhận đây là một loài được chấp nhận về mặt phân loại và có vùng phân bố bản địa tại Việt Nam. Bảo tàng số Đại học Đà Lạt cũng lưu mẫu vật với tên khoa học này.

Hình 6: TS. Phạm Văn Luân và ông Võ Duy Quang chia sẻ, nghiên cứu về Trà hoa vàng Thạch Châu
Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026

Về đặc điểm hình thái và sinh học, theo lời chia sẻ của ông Võ Duy Quang: Trà hoa vàng Thạch Châu có một số dấu hiệu đáng chú ý như quả khá cứng, trong cấu trúc hạt thường ghi nhận hạt đực nhiều hơn hạt cái. Những đặc điểm này cần được tiếp tục quan sát, đo đạc và đối chiếu trong các nghiên cứu chuyên môn, bởi chúng có thể góp phần làm rõ đặc điểm sinh sản, khả năng tái sinh tự nhiên và phương pháp nhân giống phù hợp của quần thể. Ông Võ Duy Quang cũng chia sẻ rằng Trà Thạch Châu được quan tâm bởi những công dụng tiềm năng như chống ôxy hóa, hỗ trợ giải độc và bảo vệ gan, góp phần ổn định đường huyết và cải thiện giấc ngủ. Loài trà này đồng thời được giới thiệu trong nhóm 10 cây dược liệu quý của Việt Nam. Tuy nhiên, các công dụng trên cần được hiểu là thông tin được chia sẻ từ thực tế sử dụng và định hướng nghiên cứu; để có thể đưa ra kết luận y học chính thức, cần có thêm các nghiên cứu hóa sinh, dược lý, độc tính và thử nghiệm lâm sàng phù hợp.

Những dữ liệu đó cho thấy nghiên cứu về trà hoa vàng và trà Thạch Châu tại Việt Nam đã có nền tảng nhất định. Tuy nhiên, quần thể được phát hiện tại Quảng Sơn vẫn cần được nghiên cứu riêng, đặc biệt nếu muốn xác định chính xác danh pháp, nguồn gốc, đặc điểm di truyền và sự khác biệt của quần thể này với các nguồn trà Thạch Châu đã được nghiên cứu trước đó. Đây là điểm mà câu chuyện cần chuyển từ “phát hiện” sang “kiểm chứng”.

Các nhà khoa học về thực vật học, sinh học, hóa sinh và các lĩnh vực liên quan có thể tham gia vào một chuỗi nghiên cứu gồm: xác định loài và nguồn gen; đánh giá đặc điểm hình thái, trong đó có đặc điểm quả cứng và tỷ lệ hạt đực – hạt cái; phân tích thành phần hóa học; nghiên cứu khả năng nhân giống; đánh giá điều kiện sinh thái; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về các cá thể trong quần thể. Một khi những dữ liệu này được xác lập, giá trị của Trà hoa vàng Thạch Châu sẽ không còn chỉ được kể bằng câu chuyện truyền miệng, mà có thể được chứng minh bằng hồ sơ khoa học có thể kiểm chứng.

Hình 7: Biển báo Trà hoa vàng Thạch Châu được bảo tồn tại xã Quảng Sơn
Nguồn: Võ Duy Quang, ngày 28/8/2026

BẢO TỒN KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ ĐÓNG KHUNG CÂY TRONG TỰ NHIÊN

Một trong những vấn đề lớn của bảo tồn hiện nay là làm thế nào để bảo vệ nguồn gen mà đồng thời tạo ra động lực để cộng đồng tiếp tục gìn giữ nó. Kinh nghiệm từ các mô hình trà hoa vàng tại Việt Nam cho thấy nghiên cứu nhân giống, xây dựng vùng nguyên liệu và phát triển sản phẩm có thể tạo ra mối liên kết giữa bảo tồn – sản xuất – sinh kế. Tại Bắc Kạn, chẳng hạn, các nghiên cứu về trà hoa vàng đã đi từ khảo sát phân bố, xác định loài đến hoàn thiện kỹ thuật nhân giống, xây dựng mô hình trồng và tập huấn kỹ thuật cho người dân. Một số sản phẩm trà hoa vàng sau đó được phát triển theo hướng hàng hóa và OCOP.

Đối với xã Quảng Sơn, hướng đi này có thể được đặt ra nhưng cần thực hiện theo một nguyên tắc quan trọng: khai thác phải đi sau nhận diện và bảo tồn. Những cá thể tự nhiên có giá trị cần được ưu tiên bảo vệ. Việc nhân giống, nếu được nghiên cứu và chứng minh phù hợp, có thể giúp tạo nguồn nguyên liệu sản xuất mà giảm áp lực lên quần thể tự nhiên. Đặc biệt, việc nghiên cứu đặc điểm quả, hạt và tỷ lệ hạt đực – hạt cái có thể hỗ trợ xây dựng quy trình nhân giống hiệu quả hơn. Nói cách khác, mục tiêu không phải là biến những cây trà hoang dã còn lại thành nguyên liệu khai thác đại trà, mà là xây dựng một chuỗi trong đó nguồn gen tự nhiên được bảo vệ, cây giống được nhân rộng có kiểm soát và giá trị kinh tế được tạo ra từ vùng nguyên liệu bền vững.

Hình 8: Buổi gặp gỡ tại An Nhơn Trà cùng GS. Masaaki Shimizu
Nguồn: An Nhơn Trà, ngày 20/8/2026

AN NHƠN TRÀ VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ SỞ KINH DOANH TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ MỚI

Nếu khoa học giúp trả lời câu hỏi “cây trà này là gì và có giá trị như thế nào?”, thì cơ sở kinh doanh trà có thể góp phần trả lời câu hỏi tiếp theo: làm thế nào để giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm phù hợp, đến với cộng đồng và người tiêu dùng một cách minh bạch, có trách nhiệm?

Trong hành trình đó, An Nhơn Trà có thể được nhìn nhận như một không gian kết nối giữa trà, văn hóa, tri thức và đời sống đương đại. Những hoạt động giao lưu văn hóa tại đây cho thấy trà không chỉ hiện diện như một sản phẩm tiêu dùng, mà còn có khả năng mở ra những cuộc đối thoại về con người, vùng đất và các giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Ngày 20/8 vừa qua, nhóm sinh viên Trường Đại học Văn hóa TP. HCM đã có buổi gặp gỡ tại An Nhơn Trà cùng GS. Masaaki Shimizu – Chủ tịch Hội đồng chuyên môn Trung tâm Việt Nam học, Đại học Osaka. Với sự tham dự của Nghệ nhân Quốc gia Dương Thị Lệ, TS. Phạm Văn Luân, PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân, các khách mời và sinh viên, buổi gặp gỡ đã trở thành không gian giao lưu giữa trà, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam – Nhật Bản.

Hình 9: Các hoạt động viết thư pháp, tặng sách, tặng trà Bạch Mai từ cây Di Sản tại Bến Tre (cũ) trong buổi gặp gỡ tại An Nhơn Trà cùng GS. Masaaki Shimizu
Nguồn: Mỹ Quyên, ngày 20/8/2026

Từ những chén trà xanh được om theo cách của người miền Trung, Mạn Liên Trà và Hojicha, đến những nét thư pháp Hán Nôm, những quyển sách trao tặng trong cuộc trò chuyện cho thấy trà có thể trở thành một nhịp cầu giản dị để kết nối con người, tri thức và những nền văn hóa khác nhau. Đây cũng là nền tảng để An Nhơn Trà có thể tham gia sâu hơn vào những câu chuyện về trà bản địa, trong đó có Trà hoa vàng Thạch Châu tại Quảng Sơn.

Từ không gian thưởng trà, câu chuyện được mở rộng đến vùng nguyên liệu.

Từ một hoạt động giao lưu văn hóa, câu chuyện tiếp tục đi vào thực địa.

Và từ một sản phẩm trà, câu chuyện có thể tiến tới một hệ sinh thái gồm khoa học – cộng đồng – doanh nghiệp – văn hóa – thị trường.

Hình 10: GS. Masaaki Shimizu nhận Trà Bạch Mai sau 4 năm đến thăm cây Di sản Bạch Mai từ TS. Phạm Văn Luân sau buổi gặp gỡ tại An Nhơn Trà
Nguồn: Trần Thanh Toàn và Võ Yến Oanh, ngày 20/8/2026

Trong định hướng được đặt ra sau chuyến khảo sát và sự tư vấn của GS. Masaaki Shimizu đến từ Nhật Bản – quốc gia nổi tiếng với “Trà Đạo”, An Nhơn Trà có thể tham gia ở một số khâu phù hợp: chia sẻ kinh nghiệm về thu hái và chế biến trà; phối hợp với người dân và các nhà khoa học để nghiên cứu quy trình chế biến; thử nghiệm những phương thức phù hợp nhằm giữ được đặc trưng của nguyên liệu; đồng thời đánh giá khả năng hình thành sản phẩm trà từ nguồn nguyên liệu địa phương.

Tuy nhiên, việc phát triển sản phẩm cần được đặt sau quá trình nhận diện, bảo tồn và nghiên cứu. Trà hoa vàng Thạch Châu trong tự nhiên cần được bảo vệ trước khi tính đến việc khai thác nguyên liệu. Nếu kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng nhân giống phù hợp, việc xây dựng vùng nguyên liệu có kiểm soát có thể giúp giảm áp lực lên quần thể tự nhiên, đồng thời tạo cơ sở cho một chuỗi sản xuất bền vững. Đặc biệt, mọi sản phẩm mới cần gắn với kiểm nghiệm và công bố minh bạch về thành phần, chất lượng và quy trình sản xuất, thay vì chỉ dựa trên những lời giới thiệu truyền miệng. Đối với các thông tin về công dụng như chống ôxy hóa, hỗ trợ giải độc và bảo vệ gan, ổn định đường huyết hay cải thiện giấc ngủ, cần phân biệt rõ giữa kinh nghiệm sử dụng, kết quả nghiên cứu bước đầu và công dụng được phép công bố theo quy định. Đây là yêu cầu quan trọng nếu muốn một sản phẩm từ nguồn tài nguyên bản địa đi xa hơn phạm vi một sản phẩm địa phương và trở thành một thương hiệu có giá trị lâu dài.

Hình 10: Đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM và ông Võ Duy Quang sau quá trình nghiên cứu Trà hoa vàng Thạch Châu
Nguồn: Người dân địa phương, ngày 28/8/2026

TỪ QUẢNG SƠN, MỘT MÔ HÌNH “BẢO TỒN ĐỂ PHÁT TRIỂN” CÓ THỂ ĐƯỢC MỞ RA

Nhìn rộng hơn, câu chuyện Trà hoa vàng Thạch Châu ở Quảng Sơn không chỉ là câu chuyện về một loài cây. Đó là câu chuyện về cách một nguồn tài nguyên bản địa được nhìn thấy – nhận diện – nghiên cứu – bảo tồn – nhân giống – chế biến – kể lại – và đưa vào đời sống đương đại. Trong chuỗi ấy, mỗi chủ thể có một vai trò khác nhau.

Cộng đồng địa phương là những người đang sống cùng nguồn tài nguyên và lưu giữ tri thức bản địa.

Nhà khoa học giúp xác định chính xác giá trị sinh học, hóa học và di truyền của cây, đồng thời kiểm chứng những đặc điểm như quả cứng, tỷ lệ hạt đực – hạt cái và các hoạt chất có liên quan đến những công dụng được chia sẻ.

Các tổ chức bảo tồn góp phần xây dựng hồ sơ, đánh giá và thúc đẩy việc bảo vệ những cá thể có giá trị.

Cơ sở kinh doanh trà có thể đưa kinh nghiệm chế biến, phát triển sản phẩm và kết nối thị trường vào chuỗi giá trị, nhưng cần thực hiện trên cơ sở tôn trọng kết quả nghiên cứu, quyền lợi của cộng đồng và yêu cầu bảo tồn nguồn gen.

– Còn người tiêu dùng là mắt xích cuối cùng, góp phần quyết định một sản phẩm bản địa có thể tồn tại lâu dài trên thị trường hay không.

Đó là lý do chuyến khảo sát tại xã Quảng Sơn cần được nhìn nhận như một điểm khởi đầu, chứ chưa phải điểm kết thúc. Những việc cần tiếp tục phía trước đã được đặt ra khá rõ: khảo sát và lập hồ sơ hiện trạng quần thể; xác định các cá thể có giá trị để nghiên cứu khả năng đề xuất Cây Di sản; thu thập tri thức và câu chuyện dân gian của cộng đồng; tiến hành nghiên cứu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh học và thành phần hóa học của cây; làm rõ đặc điểm quả, hạt và khả năng sinh sản; kiểm chứng các công dụng được chia sẻ; nghiên cứu phương pháp nhân giống; đồng thời xây dựng cơ chế hợp tác giữa người dân, nhà khoa học, tổ chức bảo tồn và cơ sở kinh doanh.

Nếu làm được điều đó, Trà hoa vàng Thạch Châu sẽ không chỉ được biết đến như một loài trà quý giữa vùng đất Tây Nguyên. Nó có thể trở thành một ví dụ sinh động cho cách biến một nguồn tài nguyên bản địa thành giá trị văn hóa, khoa học và sinh kế mà không đánh đổi nền tảng bảo tồn. Và có lẽ, ý nghĩa sâu xa nhất của hành trình An Nhơn Trà tại Quảng Sơn cũng nằm ở đó: không chỉ tìm một sản phẩm trà mới để thưởng thức, mà tìm cách để một giá trị vốn đã tồn tại trong tự nhiên được nhận diện đúng, bảo vệ đúng và phát triển đúng hướng.

Tác giả bài viết trân trọng cảm ơn An Nhơn Trà đã tổ chức buổi gặp gỡ, giao lưu và tạo điều kiện để tác giả cùng các thành viên trong đoàn có cơ hội tiếp cận, trao đổi và tìm hiểu sâu hơn về Trà Thạch Châu Hoa Vàng. Đặc biệt, tác giả xin trân trọng cảm ơn GS. Masaaki Shimizu đã dành thời gian tham dự, chia sẻ và giao lưu trong chương trình, góp phần mở rộng không gian trao đổi về văn hóa trà, tri thức và sự kết nối văn hóa Việt Nam – Nhật Bản. Sự kết nối giữa không gian văn hóa trà, hoạt động nghiên cứu và khảo sát thực địa đã góp phần mở ra những góc nhìn thiết thực về việc nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên trà bản địa..

Trân trọng cảm ơn ông Võ Duy Quang vì sự tiếp đón chu đáo, nhiệt tình; những thông tin, chia sẻ thực địa và kinh nghiệm liên quan đến Trà Thạch Châu Hoa Vàng, góp phần cung cấp thêm tư liệu cho quá trình tìm hiểu và xây dựng nội dung bài viết.

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn cùng cộng đồng địa phương đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động khảo sát và tìm hiểu về quần thể Trà hoa vàng Thạch Châu tại địa phương.

Những đóng góp, chia sẻ và sự hỗ trợ quý báu trên là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả tiếp tục hoàn thiện bài viết, đồng thời góp phần lan tỏa câu chuyện về nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị các nguồn tài nguyên bản địa gắn với khoa học, văn hóa và sinh kế cộng đồng.

Sinh viên Trần Thanh Toàn
Trường Đại học Văn hóa TP. HCM
CTV Nhóm Sáng tạo trẻ Bến Tre

Tài liệu tham khảo

1. An Nhơn Trà. (2022). ngày truy cập 21/9/2026. https://www.facebook.com/annhontra/.

2. Hiền Nguyễn (2026). Trà hoa vàng Thạch Châu: “Nữ hoàng trà” giữa rừng cao nguyên Lâm Đồng. Tạp chí Điện tử Kinh tế và Đồ uống. ngày truy cập 21/9/2026. https://kinhtedouong.vn/tra-hoa-vang-thach-chau-nu-hoang-tra-giua-rung-cao-nguyen-lam-dong-126508.html.

3. Royal Botanic Gardens, Kew. (2026). Camellia murauchii Ninh & Hakoda. Plants of the World Online (POWO). ngày truy cập 21/9/2026. https://museum.dlu.edu.vn/handle/2710/145?mode=full&utm.

4. Tuấn Sơn. (2025). Mở ra cơ hội làm giàu từ cây trà hoa vàng. Báo Nhân Dân điện tử, ngày truy cập 21/9/2026. https://nhandan.vn/mo-ra-co-hoi-lam-giau-tu-cay-tra-hoa-vang-post867633.html?utm.

5. Đỗ Vũ. (2016). Tìm hiểu “Cây di sản” ở Việt Nam. Tạp chí điện tử Thế giới Di sản. ngày truy cập 21/9/2026. https://thegioidisan.vn/vi/tim-hieu-cay-di-san-o-viet-nam.html.

| Bình luận (0)

Tối đa: 1500 ký tự