Số hóa tài liệu cổ trong cộng đồng: Mở rộng không gian học liệu, kết nối di sản với nhà trường thấm nhuần bài học tri ân tiền nhân

aA
0

Ảnh: HQC

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa đang trở thành xu thế tất yếu, bảo tồn và phát huy giá trị các tài liệu cổ lưu giữ trong cộng đồng ngày càng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu và các cơ sở đào tạo. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Số hóa tài liệu cổ đang được lưu giữ trong cộng đồng phục vụ hoạt động đào tạo của Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” do TS. Phạm Văn Luân làm chủ nhiệm. Nhóm thực hiện đề tài có các giảng viên, nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh- TS. Nguyễn Hồ Phong, TS. Phạm Phương Thùy; Trường Đại học Kinh tế – Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh- TS. Huỳnh Quán Chi cùng nhà nghiên cứu di sản văn hóa Trần Đông Phú – Hội Di sản Văn hóa Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long. Đề tài cũng nhận được sự hỗ trợ của các sức sắc tôn giáo, cộng tác viên, nhà khoa học trong và ngoài nước, cộng đồng lưu giữ tài liệu cổ và hậu duệ các danh nhân văn hóa tại nhiều địa phương.

Chủ nhiệm đề tài và TS. Thượng toa Thích Minh Thuận trụ trì Chùa  An Hoà (trái) trao đổi về tài liệu cổ có liên quan đến bác học Trương Vĩnh Ký. Ảnh: Huỳnh Quán Chi

Bảo tồn nguồn tư liệu quý trong cộng đồng

Tài liệu cổ là những di sản tri thức có giá trị đặc biệt, phản ánh lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và đời sống xã hội qua nhiều thời kỳ. Tuy nhiên, phần lớn nguồn tư liệu này hiện đang được lưu giữ phân tán trong gia đình hậu duệ, nhà thờ họ, cơ sở tôn giáo và các bộ sưu tập tư nhân; đồng thời phải đối mặt với nguy cơ xuống cấp, thất lạc hoặc khó tiếp cận do điều kiện bảo quản còn hạn chế.

Trước thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Huế, Hà Nội và một số địa phương khác nhằm nhận diện, lập danh mục và tuyển chọn các tài liệu cổ có giá trị để số hóa. Đặc biệt, đề tài tập trung vào các tư liệu liên quan đến hai danh nhân văn hóa tiêu biểu của Nam Bộ là Nguyễn Đình Chiểu và Trương Vĩnh Ký, góp phần bổ sung nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử, văn hóa, giáo dục và di sản.

Chủ nhiệm Đề tài – Nhà nghiên cứu Châu Anh Phụng (giữa)  và TS. Olivier Tessier – GĐ Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Ảnh: NhómSTT Bến Tre

Kết nối di sản với đào tạo bằng công nghệ số

Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận các nguồn tư liệu còn đang được lưu giữ trong cộng đồng, gia đình hậu duệ các danh nhân, nhà thờ họ và các nhà sưu tập tư nhân. Bên cạnh hoạt động khảo sát và số hóa, đề tài còn tổ chức tọa đàm khoa học quốc tế “Tư liệu cổ trong cộng đồng – sự quan tâm của học giả nước ngoài và bài học cho công tác đào tạo ngành Quản lý văn hóa”, qua đó ghi nhận nhiều góc nhìn mới về bảo tồn di sản tư liệu, quyền sở hữu cộng đồng và vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong công tác chuyển đổi số.

 Hậu duệ Trương Vĩnh Ký –  ông Nguyễn Minh Tâm (thứ 2 từ trái), Nguyễn Minh Tiến (thứ 2 từ phải), Tại Tọa đàm, 25/11/2026. Nguồn: Nhóm tác giả.

Báo cáo của Chủ nhiệm đề tài. Ảnh: Huỳnh Quán Chi

Kết quả nghiên cứu cho thấy tài liệu cổ trong cộng đồng không chỉ là những chứng tích lịch sử mà còn là nguồn dữ liệu có giá trị đối với hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và truyền thông văn hóa. Việc số hóa các tư liệu liên quan đến Nguyễn Đình Chiểu và Trương Vĩnh Ký góp phần mở rộng khả năng tiếp cận nguồn học liệu, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên và các nhà nghiên cứu khai thác hiệu quả các giá trị của di sản tư liệu trong môi trường số.

Hướng tới mô hình đồng quản lý và xây dựng dữ liệu di sản

Sản phẩm hướng tới và kết nối của đề tài. Nguồn: Nhóm nghiêm cứu đề tài
Khuyến nghị của nhóm Đề tài. Nguồn: Nhóm nghiên cứu đề tài

Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là đề xuất mô hình đồng quản lý tàiliệu cổ giữa cộng đồng, chủ sở hữu tư liệu, nhà quản lý văn hóa và các cơ sở đào tạo thông qua kênh công nghiệp văn hóa và sáng tạo khởi nghiệp ở trường ĐH. Mô hình này vừa bảo đảm quyền sở hữu và gìn giữ di sản của cộng đồng, vừa tạo cơ chế hợp tác bảo tồn, số hóa và khai thác tài liệu cổ phục vụ hoạt động giáo dục và nghiên cứu theo tinh thần sáng tạo, khởi nghiệp, phù hợp với tư tưởng của UNESCO.

Nhóm Đề tài và NCS Hứa Văn Ân thăm nhà nghiên cứu Châu Anh Phụng (thứ 2, 3 từ phải). Nguồn: Nhóm nghiên cứu đề tài

Bên cạnh xây dựng nguồn học liệu số phục vụ đào tạo, đề tài đã tạo ra nhiều sản phẩm khoa học và học thuật có giá trị. Kết quả nghiên cứu bao gồm báo cáo tuyển chọn, đánh giá và khuyến nghị về tài liệu cổ có liên quan đến Nguyễn Đình Chiểu và Trương Vĩnh Ký; danh mục các công trình nghiên cứu, sách báo có giá trị tham khảo phục vụ xây dựng thư mục nghiên cứu Trương Vĩnh Ký; bộ sưu tập các tài liệu cổ được số hóa và chuyển giao cho Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu. Một số kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đã được công bố trong sách chuyên khảo Tài liệu cổ trong cộng đồng ở Việt Nam: Các góc độ tiếp cận do Nhà xuất bản Vista PS (Nhật Bản) phát hành, đồng thời được giới thiệu thông qua nhiều bài báo khoa học trong nước và 6 bài báo khoa học quốc tế, góp phần lan tỏa giá trị học thuật của đề tài và tăng cường kết nối với các mạng lưới nghiên cứu di sản, lưu trữ và số hóa tư liệu trên thế giới.

Sản phẩm của Đề tài được công bố ở Nhật Bản.  Nguồn: Nhóm tác giả.

Từ kết quả khảo sát thực địa, tiếp cận tư liệu và nghiên cứu về các danh nhân văn hóa Nam Bộ, nhóm nghiên cứu đề xuất Danh sách 10 danh nhân văn hóa có tiềm năng xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO xem xét vinh danh trong tương lai. Đề xuất này xuất phát từ nhận thức nhiều nhân vật lịch sử, học giả, nhà giáo dục, nhà văn hóa và nhà yêu nước của Nam Bộ đã có những đóng góp quan trọng đối với tiến trình phát triển văn hóa dân tộc, giao lưu văn hóa quốc tế và sự hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam hiện đại. Nghiên cứu, hệ thống hóa tư liệu, xây dựng hồ sơ khoa học và tổ chức các hoạt động học thuật liên quan không chỉ góp phần bảo tồn di sản tư liệu mà còn tạo tiền đề quảng bá giá trị văn hóa Nam Bộ trên bình diện khu vực và quốc tế.

 Danh sách các danh nhân văn hóa Nam Bộ có tiềm năngxây dựng hồ sơ trình UNESCO vinh danh

STT Danh nhân Năm sinh – mất Lĩnh vực tiêu biểu Mốc kỷ niệm
1 Nguyễn Hữu Cảnh 1650–1700 Danh nhân lịch sử – văn hóa – Nhà quản trị quốc gia. Đặt nền móng cho không gian văn hóa Nam Bộ đa tộc người. Gắn với tiến trình giao lưu văn hóa Việt – Khmer – Hoa ở Đông Nam Á. 2050 kỷ niệm 400 năm sinh
2 Lê Văn Duyệt 1764–1832 Nhà quản trị thúc đẩy tính đa dạng văn hóa và giao lưu quốc tế tại Nam Bộ thế kỷ XIX: quản trị xã hội, khoan dung văn hóa, giao thương quốc tế, tính mở của đô thị Sài Gòn – Gia Định. 2032 kỷ niệm 200 năm mất
3 Phan Thanh Giản 1796–1867 Nhà giáo dục, nhà ngoại giao và học giả Nho học Nam Bộ. Vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ, biểu tượng học vấn phương Nam thế kỷ XIX. Giá trị toàn cầu: Giáo dục, tri thức, phát triển văn hóa học thuật, đại diện cho nỗ lực đối thoại, ngoại giao tránh chiến tranh. 2067 kỷ niệm 200 năm mất
4 Trương Định 1820–1864 Đại diện tiêu biểu cho tinh thần tự chủ dân tộc. Có sức ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa ký ức Nam Bộ. Biểu tượng của tinh thần độc lập dân tộc và quyền tự quyết của cộng đồng. 2064 kỷ niệm 200 năm mất
5 Trương Vĩnh Ký 1837–1898 Nhà ngôn ngữ học, ngoại giao và giáo dục. Đóng góp tiêu biểu: phát triển chữ Quốc ngữ, biên soạn từ điển, báo chí, góp phần chuyển đổi tri thức Việt Nam sang mô hình cận đại. Giá trị toàn cầu: Giao lưu văn hóa, đa ngôn ngữ, tiếp cận tri thức đại chúng. 2037 kỷ niệm 200 năm sinh
6 Nguyễn Trung Trực 1838–1868 Danh nhân gắn với di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội tưởng niệm, ký ức cộng đồng, tín ngưỡng dân gian Nam Bộ. “Biểu tượng văn hóa – lịch sử sống trong ký ức và thực hành văn hóa cộng đồng”. 2038 kỷ niệm 200 năm sinh
7 Cao Văn Lầu 1892–1976 Danh nhân văn hóa – âm nhạc truyền thống. Tác giả bài Dạ cổ hoài lang, nền móng của vọng cổ, cải lương, đờn ca tài tử. Giá trị toàn cầu: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, biểu tượng sáng tạo nghệ thuật dân gian và trao truyền văn hóa cộng đồng. 2026 kỷ niệm 50 năm mất
8 Trần Hữu Trang 1906–1966 Đại soạn giả cải lương Nam Bộ, nâng cải lương từ giải trí dân gian lên nghệ thuật sân khấu nhân văn. Giá trị toàn cầu: Bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống, đưa cải lương thành “ký ức xã hội” và tiếng nói cộng đồng. 2066 kỷ niệm 100 năm mất
9 KTS. Huỳnh Tấn Phát 1913–1989 Kiến trúc sư lỗi lạc, ngọn cờ đầu xây dựng văn hóa đô thị, nhà trí thức dấn thân vì hòa bình. Giá trị toàn cầu: Nhà ngoại giao kết nối trí thức đô thị với phong trào dân tộc, thúc đẩy hòa hợp độc lập, đại diện cho tinh thần trách nhiệm xã hội. 2063 kỷ niệm 150 năm sinh
10 GS. Trần Văn Khê 1921–2015 Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống hàng đầu, “đại sứ học thuật” của âm nhạc dân tộc Việt Nam ra thế giới. Góp phần quốc tế hóa Đờn ca tài tử Nam Bộ. Giá trị toàn cầu: Bảo tồn, nghiên cứu và truyền bá di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 2065 kỷ niệm 50 năm mất

(Nguồn: Nhóm tác giả đề tài, 6/2026)

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất tiếp tục xây dựng ngân hàng dữ liệu số về tài liệu cổ Nam Bộ, mở rộng phạm vi khảo sát đối với các danh nhân văn hóa tiêu biểu, kết nối với Chương trình Ký ức Thế giới (Memory of the World) và Chương trình UNESCO về kỷ niệm các danh nhân cùng sự kiện lịch sử. Đồng thời, thúc đẩy các hoạt động hội thảo quốc tế, triển lãm tư liệu, dịch thuật và tái bản các công trình nghiên cứu, cũng như các chương trình giáo dục di sản trong nhà trường lan tỏa giá trị văn hóa của các danh nhân Nam Bộ đến cộng đồng trong nước và quốc tế.

Chủ nhiệm đề tài và TS. Nguyễn Thị Bích Đào- Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
Ảnh: Huỳnh Quán Chi

Bảo Ngọc- SV- ĐH NTT, CTV STT Bến Tre

| Bình luận (0)

Tối đa: 1500 ký tự