
Nhóm nghiên cứu đứng trước cổng Tam Quan tại Lăng Ông. (Nguồn: Ảnh chụp thực tế của nhóm tại Lăng Ông Bà Chiểu)
Trước khi đặt chân đến đây, Lăng Ông Bà Chiểu trong hình dung của nhóm chúng tôi chỉ gói gọn qua những dòng sử liệu khô khan của Đại Nam liệt truyện hay các tập hồ sơ nghiên cứu đang dang dở. Nhóm chọn chuyến điền dã này có những góc nhìn mới mẻ về Đức Tả quân Lê Văn Duyệt.
Khoảnh khắc vừa bước qua cánh cổng Tam Quan, dòng xe tấp nập ở đường Phan Đăng Lưu dường như bị bỏ lại phía sau, nhường chỗ cho tiếng lá cây rì rào và làn gió mát lành. Ánh nắng dịu nhẹ xuyên qua vòm cây cổ thụ, rọi xuống khoảng sân gạch rợp bóng mát. Giữa không gian tĩnh lặng rợp mùi khói hương trầm lắng ấy, một câu hỏi bất giác dấy lên trong lòng chúng tôi: Giữa khói trầm nghi ngút và bóng mát trăm năm, khoảng cách giữa những trang sử và một di sản đang thực sự “sống” ngoài đời thực rốt cuộc là bao xa?
Bước sâu vào bên trong, cảm giác ngột ngạt bởi tiếng ồn đô thị hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một khuôn viên rợp bóng mát với nhiều mảng xanh và dãy ghế đá dừng chân. Ngay trước cổng lăng có trạm xe buýt tiện lợi, bên trong bố trí sẵn điểm uống nước miễn phí và nhà vệ sinh sạch sẽ cho du khách lẫn sinh viên.

Điểm làm chúng tôi ấn tượng nhất là sự trang nghiêm và nguyên vẹn của công trình. Những mái ngói âm dương phủ rêu phong đỏ thẫm uốn cong nhẹ nhàng, mang đậm phong cách kiến trúc cổ thời nhà Nguyễn với kỹ thuật chạm trổ tinh xảo. Nhìn vào nơi đây có lẽ ít ai biết kiến trúc này từng đứng vững qua nhiều biến cố, dù phần mộ từng bị san phẳng trong lịch sử rồi mới được phục dựng lại, giống như một ký ức bị tổn thương rồi hồi sinh (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006).


Càng vào bên trong chính điện, không gian càng trang nghiêm với nghi ngút hương khói trầm lắng, cạnh bên là các hàng câu đối cổ chạm khắc tinh xảo vẫn giữ nguyên nét uy nghi, nó hay ở chỗ mỗi câu đối ấy đều được phiên dịch ra chữ Quốc ngữ để bất cứ ai cũng có thể đọc và hiểu được. Hai bên tường là những bức chạm khắc bằng gỗ về những công lao của Tả quân Lê Văn Duyệt, bên cạnh nơi thờ cúng của ông còn được trưng bày những bộ trang phục và mặt nạ liên quan đến hát Bội thời xưa, nhắc nhở chúng tôi về công lao bảo trợ loại hình nghệ thuật này tại vùng đất Nam Bộ.
Đứng trước điện thờ, được vị Thủ từ hướng dẫn tận tình, chúng tôi cẩn trọng dâng đèn, dâng hương và thực hiện từng nhịp cúi lạy theo đúng nghi thức hai vái bốn lạy truyền thống. Mùi khói hương trầm quyện trong từng nhịp gõ mõ, bao phủ lấy bầu không khí thiêng liêng khiến bước chân ai cũng khẽ khàng. Tay cầm nén hương nghi ngút khói, làn hương trầm dịu nhẹ xua tan mọi âu lo, mang đến cho các thành viên nhóm cảm giác thanh tịnh lạ kỳ.
Quan sát xung quanh, chúng tôi nhận ra không gian tâm linh này chưa bao giờ tách rời khỏi đời sống hiện đại. Không chỉ có những người lớn tuổi hay bậc trung niên đến khấn nguyện, mà còn có cả những gia đình trẻ dắt theo con nhỏ, tỉ mỉ dạy con chắp tay trước điện thờ. Sự tiếp nối liên thế hệ hiển hiện rõ ràng qua từng cái cúi lạy. Chúng tôi hiểu rằng, bất kể khoảng cách thế hệ hay thời đại, lòng tôn kính dành cho Tả quân Lê Văn Duyệt và các đấng tiền nhân vẫn chưa từng gián đoạn, luôn sống động và trao truyền như một dòng chảy tự nhiên qua năm tháng.
Lần đầu tiên trải nghiệm xin xăm tại Lăng Ông, nhóm chúng tôi không tránh khỏi chút bỡ ngỡ. Sau vài phút thành tâm khấn nguyện trước bàn thờ, tôi cẩn thận cầm ống thẻ lên khẽ lắc. Tiếng lách cách của những chiếc thẻ tre vang lên đều đặn giữa không gian tĩnh lặng, rồi một chiếc nhẹ nhàng rơi ra. Cầm đôi keo gỗ hình bán nguyệt áp vào lòng bàn tay, chúng tôi khẽ khấn rồi thả xuống sàn xin xác nhận. Thấy một mặt sấp, một mặt ngửa – một âm một dương đồng thuận – chúng tôi cầm thẻ tre đến quầy nhận giấy giải xăm.
Đọc từng dòng lời bàn, chúng tôi chỉ đơn giản là mở lòng đón nhận một lời khuyên chứ không đặt nặng chuyện phán truyền may rủi. Thật lạ, quẻ xăm hôm ấy không hề mang màu sắc huyền bí xa vời mà giống như một lời gỡ rối chân thành, giúp chúng tôi tĩnh tâm nhìn lại những băn khoăn của chính mình.
Cầm tờ giấy giải xăm trên tay, tự dưng chúng tôi hiểu ra vì sao người trẻ thời nay vẫn tìm về Lăng Ông. Nó đâu hẳn là chuyện mê tín mà giống như một cuộc “đối thoại” vô hình với tín ngưỡng tiền nhân suốt 200 năm qua. Nhìn dòng người kiên nhẫn đợi xin xăm, mới thấm thía rằng di sản phi vật thể không nằm im trong sách vở, mà vẫn đang sống động và làm điểm tựa tinh thần vững chắc cho người dân Nam Bộ.

Nhóm thực hiện nghi thức xin xăm tại Lăng Ông. (Nguồn: Ảnh chụp thực tế của nhóm tại Lăng Ông Bà Chiểu)
Chúng tôi đến với lăng Ông Bà Chiểu với mục đích nghiên cứu, học thuật nhưng những gì chúng tôi nhận được sau chuyến đi lại nhiều hơn tất cả. Đó là một góc nhìn mới về giá trị của di sản, một dấu ấn cảm xúc mạnh mẽ, một trải nghiệm mới mà sách vở không thể mang đến được. Khi trực tiếp “chạm” vào các di sản, chúng tôi tin rằng các đóng góp, các giá trị mà Tả quân Lê Văn Duyệt để lại xứng đáng được trân trọng và biết đến rộng rãi hơn nữa. Đặc biệt, việc trải nghiệm thực tế là cơ hội để chúng tôi học cách trân trọng, biết ơn và có trách nhiệm hơn với các giá trị di sản. Di sản không chỉ nằm lại trong quá khứ, di sản chỉ “sống” khi chúng ta biết hiểu, trân trọng và tiếp tục kể câu chuyện ấy cho thế hệ sau.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Phạm Văn Luân đã khuyến khích tạo điều kiện cho chúng tôi có một trải nghiệm vô cùng ý nghĩa. Nhờ có thầy, chúng tôi đã có thêm nhiều thông tin để phục vụ cho bài thực hành học phần Lý luận văn hoá, bên cạnh đó, chúng tôi còn cảm nhận rõ ràng hơn về di sản bằng góc nhìn của chính mình. Chúng tôi đến để tìm hiểu một di tích, nhưng rời đi cùng với những câu chuyện sẽ mãi tồn tại trong ký ức.
Nhóm Hồn Việt
Lớp 25DTCSKVH2
Khoa Quản lý Văn hoá, Nghệ thuật
Trường Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
Pháp Luật TP.HCM. (2022, August 25). Lễ hội Khai Hạ – Cầu An tại Lăng Ông Bà Chiểu là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Dân Việt. (2023, February 5). Người Sài Gòn đi lễ Lăng Ông Bà Chiểu, xin xăm Rằm tháng Giêng.
Quốc sử quán triều Nguyễn. (2006). Đại Nam liệt truyện (Tập 2). Nxb Thuận Hóa.