
“Kể ra không dám “khoai vò mình củ”, chớ tôi có nghiệp với đồ xưa từ tấm bé. Năm tuổi, biết nhịn ăn để dành đồng xu sắc sảo. Chín tuổi biết nhịn tiền mua truyện Trung Quốc. Mười chín tuổi ra trường đậu Diplôme, đã vọc vạch đồ cổ.” Những dòng tự thuật mộc mạc ấy cho thấy niềm say mê đồ cổ xưa đã gắn bó với Vương Hồng Sển từ thuở nhỏ. Từ thú chơi ban đầu, ông dần hình thành một di sản sưu tầm có giá trị về lịch sử và văn hóa, để hôm nay vẫn được tìm hiểu và lưu giữ qua Sưu tập Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Vương Hồng Sển (1902–1996), tên thật Vương Hồng Thạnh, sinh tại Sóc Trăng. Ông là học giả, nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ và một nhà sưu tầm cổ vật nổi tiếng. Từ năm 1947, ông làm việc tại Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn, nay là Bảo tàng Lịch sử TP.HCM. Sau khi nghỉ hưu, ông dành nhiều thời gian nghiên cứu, viết sách và sưu tầm cổ vật. Ông để lại nhiều tác phẩm như Sài Gòn năm xưa, Hơn nửa đời hư, Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn và hiến tặng bộ sưu tập cho Nhà nước trước khi qua đời.

Từ những dấu ấn mà Vương Hồng Sển để lại, nhóm nghiên cứu đã có dịp tìm hiểu sâu hơn về ông qua chuyến tham quan Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23/09/2026, tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, Quận 1 (cũ). Tại đây, nhóm trực tiếp quan sát Sưu tập Vương Hồng Sển, tìm hiểu những cổ vật được ông sưu tầm và cách các hiện vật được giới thiệu trong không gian bảo tàng. Chuyến đi giúp những thông tin vốn được tìm hiểu qua sách, báo và tư liệu trở nên gần gũi, trực quan hơn

Trong chuyến tham quan, nhóm đặc biệt ấn tượng với các loại tô, dĩa và bộ đồ trà được trang trí cảnh sơn thủy, kết hợp thơ Hán Nôm và những bài thơ vịnh cảnh Huế như Thiên Mụ hiểu chung, Ải lĩnh xuân vân, Tam Thai thính triều…Một số hiện vật còn có hiệu chữ “Nguyễn” viết theo lối triện thư cùng các câu chủ đề như “Trung thu nhân bút ư Đông Các”, “Trung thu tiền nhất nhật”. Qua quan sát trực tiếp, nhóm cảm nhận rõ sự kết hợp tinh tế giữa nghệ thuật và văn chương trên dòng đồ sứ này.

Khi quan sát những hiện vật hoa lam thời Lê – Trịnh, nhóm chú ý đến sự tinh xảo và đa dạng trong cách thể hiện hoa văn. Qua những chiếc đĩa, bát, tô lớn cùng các hiệu đề và câu chữ Hán, Nôm trên hiện vật, nhóm có thể hình dung rõ hơn về nghệ thuật trang trí và đời sống văn hóa của tầng lớp vua, chúa đương thời.

Điều khiến nhóm chú ý khi dừng lại trước những hiện vật thời Tây Sơn là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị nhưng vẫn mang nét riêng. Các bát, dĩa mang hiệu đề “Trân Ngoạn” được trang trí bằng những câu thơ chữ Nôm, tạo nên cảm giác gần gũi hơn so với đồ sứ thời Lê – Trịnh hay Chúa Nguyễn. Nét vẽ không quá cầu kỳ, chất liệu và màu sắc cũng có phần giản dị, phần nào hình dung được đặc điểm của một giai đoạn lịch sử nhiều biến động.

Khi đến khu vực trưng bày đồ sứ thời Gia Long nhóm quan sát thấy những tô, chén, đĩa và bộ trà men trắng vẽ lam được trang trí bằng hoa lá, phong cảnh, nhân vật và thơ chữ Hán, Nôm. Những hiệu đề ghi niên đại như “Giáp Tý niên chế” (1804), “Mậu Thìn niên chế” (1808) giúp nhóm hình dung rõ hơn về thời điểm ra đời của hiện vật. Đặc biệt, đề tài “Mai hạc” kèm câu thơ Nôm để lại nhiều ấn tượng bởi vẻ đẹp thanh nhã và ý nghĩa gần gũi.

Càng đi sâu vào khu trưng bày, nhóm càng nhận thấy đồ sứ thời Minh Mạng có nhiều điểm khác biệt so với các giai đoạn trước. Hiện vật khá đa dạng, từ chén, đĩa đến ống cắm bút, bình, ống nhổ…,với nhiều hiệu đề như “Minh Mạng niên chế”, chữ “Nhật” và các niên hiệu can chi. Những chi tiết này giúp nhóm hiểu thêm về sự phát triển của đồ sứ cũng như đời sống sinh hoạt trong cung đình thời bấy giờ.

Qua những gì được giới thiệu tại khu trưng bày, nhóm nghiên cứu biết rằng dù chỉ trị vì 7 năm (1841–1847), vua Thiệu Trị lại cho đặt làm rất nhiều đồ sứ tại Trung Quốc. Dòng đồ sứ này nổi bật với màu men và cốt đất được chế tác khá tinh xảo, cùng nhiều hiệu đề như “Thiệu Trị niên chế”, chữ “Nhật”, “Kim Tiên kỳ ngoạn”, “Đại Thuận”, “Ngọc Lâu”, “Bác Cổ”. Trong số đó, nhóm đặc biệt chú ý đến những bộ đồ trà đề tài “Gia Long tẩu quốc”, bởi hình ảnh và câu chuyện trên hiện vật giúp nhóm hiểu thêm về cách vua Thiệu Trị ghi nhớ và đề cao công lao của vua Gia Long.

Ở chặng cuối của hành trình tham quan, những hiện vật thời Tự Đức mang đến cho nhóm một góc nhìn khác về đồ sứ đặt hàng. Đồ sứ giai đoạn này khá đa dạng về kiểu dáng, chủng loại và đề tài, đặc biệt nổi bật với phong cảnh kết hợp thơ chữ Hán, Nôm. Những hiệu đề như “Nhã ngoạn lưu hương”, “Nhị sĩ nhập đào nguyên” cùng cách ghi niên đại phong phú cũng để lại cho nhóm nhiều ấn tượng. Qua từng hiện vật, nhóm cảm nhận rõ sự tinh tế và phong phú của đồ sứ đặt hàng dưới triều Tự Đức, đồng thời có cái nhìn rõ hơn về sự phát triển của dòng đồ sứ qua các thời kỳ.

Sau khi trực tiếp quan sát các hiện vật tại Phòng 16, nhóm tiếp tục trao đổi với cán bộ Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu thêm về việc bảo tồn và giới thiệu Sưu tập Vương Hồng Sển. Qua phỏng vấn, nhóm được biết bảo tàng không chỉ giới thiệu các thông tin như niên đại, chất liệu, nguồn gốc hiện vật mà còn chú trọng câu chuyện về Vương Hồng Sển và quá trình ông sưu tầm, nghiên cứu cổ vật. Do bộ sưu tập gồm nhiều chất liệu khác nhau như gốm, sứ, gỗ nên việc bảo quản cũng cần chú ý đến ánh sáng, độ ẩm, môi trường và cách trưng bày phù hợp với từng loại hiện vật.
Một vấn đề mà nhóm quan tâm là tình hình khách tham quan Phòng 16. Theo cán bộ bảo tàng, lượng khách đến bảo tàng nhìn chung khá ổn định, nhưng chưa có thống kê riêng cho Phòng 16 nên chưa thể xác định chính xác số lượng khách. Phần lớn khách phổ thông biết đến Sưu tập Vương Hồng Sển trong quá trình tham quan theo tuyến, trong khi những người chủ động tìm hiểu thường là người quan tâm đến cổ vật, lịch sử và văn hóa Nam Bộ. Thông tin này giúp nhóm có thêm cơ sở để đối chiếu với kết quả khảo sát, khi một bộ phận người được hỏi vẫn chưa biết nhiều về Vương Hồng Sển và hoạt động sưu tầm của ông. Qua đó, nhóm nhận thấy việc được trưng bày tại bảo tàng chưa đồng nghĩa với việc di sản đã được nhiều người biết đến.

Bên cạnh việc trưng bày, bảo tàng cũng có các hoạt động giáo dục, tọa đàm, trải nghiệm và giới thiệu di sản đến cộng đồng. Trong cuộc trao đổi, cán bộ bảo tàng có đề cập đến sự kiện “Trăm năm sử Việt” tổ chức vào tháng 1/2026, trong đó có nội dung liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp và giá trị di sản của Vương Hồng Sển. Qua đó, nhóm nhận thấy việc giới thiệu về ông không chỉ thực hiện trong Phòng 16 mà còn có thể thông qua các hoạt động giáo dục, truyền thông và chương trình dành cho cộng đồng.
Để đưa Sưu tập Vương Hồng Sển đến gần hơn với giới trẻ, nhóm nhận thấy có thể sử dụng những cách giới thiệu dễ tiếp cận như xây dựng nội dung ngắn trên mạng xã hội, kể những câu chuyện gắn với từng hiện vật hoặc phối hợp với các trường đại học, câu lạc bộ sinh viên để tổ chức tọa đàm, hoạt động tìm hiểu và trải nghiệm. Tuy nhiên, các hoạt động tại phòng trưng bày vẫn cần phù hợp với yêu cầu bảo quản và an toàn cho hiện vật.
Sau chuyến tham quan, nhóm có thêm nhiều cảm nhận rõ hơn về Vương Hồng Sển và bộ sưu tập của ông. Trước đây, nhóm chủ yếu tìm hiểu về ông qua sách, báo và các tài liệu nghiên cứu. Khi được trực tiếp nhìn thấy những hiện vật tại Phòng 16, nhóm cảm nhận rõ hơn sự công phu và tâm huyết của ông trong quá trình sưu tầm. Những hiện vật không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn gắn với lịch sử, đời sống và văn hóa của các thế hệ trước. Dưới góc nhìn của sinh viên Quản lý văn hóa, nghệ thuật nhóm cũng nhận ra rằng một bộ sưu tập có giá trị không chỉ nằm ở số lượng hay tuổi đời của hiện vật mà còn ở câu chuyện, tri thức và giá trị văn hóa được lưu giữ cùng với chúng.
Từ những kiến thức đã học trong môn Lý luận văn hóa, nhóm nhận thấy các hiện vật không chỉ đơn thuần là những đồ vật được lưu giữ mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa được con người tạo ra, sử dụng và truyền lại qua nhiều thế hệ. Vì vậy, Sưu tập Vương Hồng Sển không chỉ có giá trị ở những cổ vật mà còn gắn với tri thức, lịch sử và ký ức văn hóa. Qua chuyến đi, nhóm hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa con người, hiện vật và đời sống văn hóa.
Nhìn chung, việc kết hợp quan sát thực tế với phỏng vấn cán bộ bảo tàng giúp nhóm có cái nhìn cụ thể hơn về Sưu tập Vương Hồng Sển cũng như công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Chuyến đi không chỉ giúp nhóm hiểu thêm về một nhà sưu tầm cổ vật mà còn giúp liên hệ kiến thức từ môn Lý luận văn hóa với thực tế ngành Quản lý văn hóa, nghệ thuật. Qua đó, nhóm nhận thấy bảo tồn di sản không chỉ là giữ gìn hiện vật mà còn cần giới thiệu và đưa những giá trị văn hóa gắn với hiện vật đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Trương Trần Khánh Băng & Lê Yap Sasha
Lớp 25DTCSKVH2