
GIỮ GÌN HƠI THỞ NAM BỘ: SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG GIỮA DÒNG CHẢY ĐÔ THỊ

Sân khấu cải lương – nơi lưu giữ hồn dân tộc, nơi chúng con nguyện tiếp bước với tất cả tình yêu và lòng biết ơn. Cải lương từng là thanh xuân của một thế hệ… Giờ chỉ còn lại trong ký ức của những người từng yêu.
“Còn đam mê, còn sân khấu”
Từ hơn một thế kỷ trước, khi nhà hoạt động sân khấu người Nga K.C. Stanislavski (1863 – 1938) đã mệnh danh sân khấu là “thánh đường” và ở đó diễn viên là “ông hoàng, bà chúa”. Dẫu vậy, cũng không thể không nhận thấy rằng trên con đường phát triển đa màu sắc của sân khấu thế giới, không ít “thánh đường” nghệ thuật bị chao đảo bởi tác động của nhiều yếu tố trong thời đại mà nó tồn tại: thể chế chính trị, tư tưởng tôn giáo, truyền thống văn hóa, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, sự cạnh tranh quyết liệt giữa các loại hình nghệ thuật, giữa cái truyền thông và cái hiện đại… Là tấm gương phản ánh xã hội và đời sống con người, ở thời đại nào, sân khấu cũng có những bước đi thăng trầm và những đặc điểm riêng của nó. Cuối thế kỷ XXI, mặc dù mới đi qua 2 thập kỷ đầu tiên, nhưng là quãng thời gian có nhiều biến động, trong đó phải kể đến hai hiện tượng – nổi lên như hai làn sóng tác động sâu sắc và rộng lớn đối với toàn thế giới.

Hình 01. Các diễn viên trong vở diễn Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga và hậu duệ Nguyễn Đình Chiểu cụ Nguyễn Đình Phước (thứ ba từ phải)
(Từ trái qua: Nghệ sĩ Tâm Phúc Linh vai Lục Văn Tiên, Đào Bích Duyên vai lão mẫu, Đào Mai Trâm Anh vai Kim Liên, Nghệ sĩ Minh Thiện vai Kiều ông, Nghệ sĩ Tú Uyên vai Kiều Nguyệt Nga). Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, ngày 16/11/2025.

Hình 02. TS. Phạm Văn Luân (bìai trái) và sinh viên Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cùng các diễn viên của vở diễn Lục Văn Tiên – Kiều Nguyệt Nga
Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, ngày 16/11/2025.
Gánh cải lương Thiên Lý – Ký ức phương Nam
Cải lương nghĩa là đổi mới, cải cách làm đẹp và sân khấu cải lương cũng có nghĩa là sự cách tân về sân khấu. Đó là hàm ý rộng, một sự cách tân trên cơ sở dựa vào yếu tố truyền thống và phát triển theo quy luật hiện đại. Ngay từ buổi bình minh, các nghệ sĩ tiên phong đã ý thức xây dựng hai câu liền như một khẩu hiệu cho sự cách tân này:
CẢI cách hát ca theo tiến bộ
LƯƠNG truyền tuồng tích sánh văn minh”.
[Đỗ Dũng, 2003, tr.11-12]
“Đã là người con của cải lương, bất cứ giá nào mình cũng phải cống hiến để cải lương không bao giờ chết…”. Thiên Lý là tên của một loài hoa với ý nghĩa đại diện cho một tình yêu chung thủy và son sắt, cùng nhau vượt qua khó khăn, trở ngại để sống hạnh phúc bên nhau. Đó cũng là tình yêu giữa cải lương và khán giả mộ điệu.
Gánh cải lương Thiên Lý vốn chỉ là hình ảnh hư cấu trong bộ phim Song Lang, nhưng dưới bàn tay của nghệ sĩ Tú Quyên cùng đạo diễn Leon Quang Lê, gánh hát ấy đã bước ra đời thực và trở thành một dấu ấn sống động của nghệ thuật cải lương tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2022. Từ ý tưởng tinh tế trong phim, nơi gánh hát hiện lên với những giai điệu mộc mạc, chân thật và đầy cảm xúc, họ đã hiện thực hóa giấc mơ này ngoài màn ảnh. Không chỉ là một đoàn hát thông thường, Thiên Lý hoạt động phi lợi nhuận với sứ mệnh gìn giữ vẻ đẹp giản dị nhưng sâu lắng của cải lương, mang hơi thở dân gian và những câu vọng cổ giàu tình người đến gần hơn với công chúng hiện đại. Mỗi buổi biểu diễn không chỉ là một chương trình nghệ thuật, mà còn là lời nhắc nhở dịu dàng rằng, cải lương – với tất cả hồn cốt và nhân nghĩa của nó, vẫn luôn sống, vẫn luôn có chỗ trong lòng những ai yêu văn hóa Việt Nam.


Hình 03, 04. Đạo diễn Leon Quang Lê (ảnh trái) và Nghệ sĩ Tú Quyên )bìa phải)– Người tạo nên gánh cải lương Thiên Lý
Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, ngày 16/11/2025.


Hình 05, 06, 07, 08. Không gian gánh cải lương Thiên Lý
Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, 16/11/2025.
Vở cải lương Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga khép lại trong sự đoàn viên và hạnh phúc, nhưng điều đọng lại không chỉ là câu chuyện tình đẹp mà là những ý nghĩa và giá trị đạo đức mà tác phẩm gửi gắm. Hình tượng Lục Vân Tiên đại diện cho tinh thần “thấy điều bất nghĩa thì chẳng tha”, cho lòng ngay thẳng, nhân ái và ý chí vượt qua nghịch cảnh. Kiều Nguyệt Nga tượng trưng cho sự thủy chung, lòng biết ơn và phẩm hạnh tiết nghĩa của người phụ nữ Việt Nam. Hành trình của họ cho thấy, dù đời nhiều giông bão, con người vẫn có thể giữ trọn nhân cách nếu biết sống vì nghĩa, vì tình và tôn trọng lẽ phải.
Một trong những điểm đặc biệt làm nên sức hấp dẫn của vở cải lương Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga chính là việc toàn bộ tác phẩm được xây dựng dựa trên 2.084 câu thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Thay vì chỉ lấy ý tưởng, các nghệ sĩ đã khéo léo chuyển thể từng câu, từng nhịp thơ thành lời vở diễn và điệu vọng cổ, giúp khán giả vừa cảm nhận được nhịp điệu truyền thống vừa thưởng thức nghệ thuật cải lương. Sự kết hợp này khiến vở diễn trở thành một bản hòa ca độc đáo, nơi văn chương, âm nhạc và sân khấu hòa quyện, giữ nguyên hồn thơ của cụ Chiểu đồng thời tạo ra trải nghiệm cảm xúc sâu sắc cho người xem. Chính nhờ cách thể hiện này mà câu thơ không còn là con số khô khan, mà trở thành hơi thở sống động trên sân khấu cải lương, góp phần khẳng định giá trị lâu bền của văn hóa dân tộc.

Hình 05. Chú Hồ Nhật Quang (Chủ nhiệm CLB Nghiên cứu & vinh danh văn hóa Nam Bộ), Ông Nguyễn Đình Phước (Hậu duệ cụ Nguyễn Đình Chiểu), chú Trần Văn Nghĩa (Nguyên Phụ trách BQL Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) (Từ trái qua) trao đổi với bầu gánh Tú Quyên sau đêm diễn. Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, ngày 16/11/2025.
Dấu xưa vọng lại – Khúc ca trăm năm
Câu chuyện ấy tuy được viết từ thế kỷ XIX nhưng giá trị vẫn còn nguyên trong xã hội hôm nay. Giữa một thế giới thay đổi nhanh, đầy cạnh tranh và áp lực, những bài học về lòng trung thực, sự tử tế, sự thủy chung và tinh thần giúp người vẫn luôn cần thiết. Vở diễn nhắc ta rằng sức mạnh lớn nhất không phải đến từ quyền lực, mà từ đạo đức và lòng nhân – những thứ nền tảng để xã hội vận hành bền vững. Tuy nhiên, chính những giá trị đẹp như vậy lại đặt ra một câu hỏi lớn: Làm sao để cải lương – loại hình nghệ thuật từng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần người Việt tiếp tục lan tỏa trong xã hội hiện đại? Bởi dù giàu tính nhân văn và có chiều sâu thẩm mỹ, cải lương đang đứng trước nhiều thách thức, sự cạnh tranh của các loại hình giải trí mới, tốc độ truyền thông nhanh, thị hiếu khán giả trẻ thay đổi, và không gian biểu diễn ngày càng thu hẹp. Trong bối cảnh ấy, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga trở thành ví dụ tiêu biểu cho thấy cải lương vẫn còn rất nhiều tiềm năng. Bản thân câu chuyện đã chứa đựng yếu tố kịch tính, cảm xúc sâu, nhân vật rõ nét rất phù hợp với lối diễn ca – thoại – nhạc của cải lương. Vấn đề không phải là cải lương “cũ”, mà là cách chúng ta đưa giá trị của nó đến với công chúng mới.

Hình 06. Nghệ sĩ Xuân Lan (giữa) chia sẻ cảm nhận sau khi xem vở diễn
Nguồn ảnh: Phạm Thị Ánh Quỳnh, ngày 16/11/2025.
Trong dòng chảy của đời sống hôm nay, khi những hình thức giải trí mới liên tục xuất hiện, cải lương vẫn âm thầm cất giữ một phần hồn cốt của văn hóa Việt. Nhưng để tiếng đờn, câu vọng cổ tiếp tục chạm đến trái tim công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, sân khấu cải lương cần được đổi mới không phải để thay đổi bản sắc, mà làm cho bản sắc ấy trở nên sống động hơn, gần gũi hơn. Đó là hành trình dung hòa giữa truyền thống và tinh thần thời đại, giữa vẻ đẹp mộc mạc xưa cũ và khán giả hôm nay. Khi cải lương tìm được nhịp bước chung với cuộc sống hiện đại, sân khấu sẽ không chỉ là nơi kể lại những câu chuyện cũ, mà trở thành không gian để thế hệ mới tìm thấy mình, cảm nhận mình và tự hào về di sản của dân tộc. Và chỉ khi ấy, ánh đèn sân khấu cải lương mới có thể tiếp tục sáng lên, không phải bằng hồi ức, mà bằng hơi thở của một tương lai đang rộng mở. Cải lương chỉ thật sự sống khi có người xem và người xem chỉ đến khi họ tìm thấy chính mình trong câu chuyện đó. Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga đã chứng minh rằng cải lương có khả năng truyền tải những giá trị đẹp, bền vững và mang tính thời đại. Việc của chúng ta hôm nay là đổi mới phương thức kể chuyện, để tiếng đàn, câu vọng cổ và những bài học nhân nghĩa ấy tiếp tục chạm đến trái tim con người hiện đại.
Phạm Thị Ánh Quỳnh, Lớp 18-2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Dũng (2003), Sân khấu cải lương Nam Bộ 1918-2000, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hugo Frey và Suzanne Joinson (2019), Beautiful and Real: An oral history of Cải lương, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Hoàng Sơn Giang (2019), Nghệ thuật Cải lương tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập, luận văn thạc sĩ ngành Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Đức Hiệp (2017), Nghệ thuật sân khấu: Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương ở Sài Gòn và Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đến 1945, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Thu Hồng (2021), Nghệ thuật cải lương ở Nam Bộ, https://baotangphunu.com/en/nghe-thuat-cai-luong-o-nam-bo/, ngày truy cập 17/11/2025.
6. Nguyễn Tuấn Khanh (2014), Bước đường của cải lương, Nxb. Viện Việt Học, Hà Nội.
7. Nguyễn Thị Minh Ngọc và Đỗ Hương (2006), Sân khấu cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Nguyễn Nhật Thanh (2024), Báo Hà nội mới Sáng tạo để “làm mới” nghệ thuật cảilương, https://hanoimoi.vn/sang-tao-de-lam-moi-nghe-thuat-cai-luong-667584.html, ngày truy cập 17/11/2025.
9. Trần Thị Thu Thủy, Nghiêm Thị Thanh Nhã, Lương Đức Thắng (2009), Giáo trình giáo dục nghệ thuật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Sĩ Tiến (1984), Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Phạm Ngọc Trung (Chủ biên) (2012), Giáo trình Lý luận văn hóa, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
12. La Thoại Vân (2016), Hoạt động sân khấu Cải lương tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – thị hiếu và nhu cầu của khán giả, luận văn thạc sĩ ngành Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.