
Chiều 28/8/2026, tại trụ sở UBND xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng, lãnh đạo địa phương, đại diện các đơn vị quản lý rừng, hợp tác xã, cộng đồng dân cư cùng Đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) và chuyên gia Ban Đào tạo Hiệp hội Du lịch TP. HCM đã có buổi tọa đàm với chủ đề “Quảng Sơn – Tiềm năng phát triển du lịch trải nghiệm, du lịch nông nghiệp và dược liệu”. Từ những vấn đề thực tiễn được đặt ra tại địa phương, các đại biểu tập trung trao đổi về hướng phát triển du lịch gắn với rừng, nông nghiệp, dược liệu, văn hóa cộng đồng và sinh kế của người dân.

Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026
TỪ KHẢO SÁT THỰC ĐỊA ĐẾN CUỘC TRAO ĐỔI ĐỀ XUẤT VỚI XÃ QUẢNG SƠN
Buổi tọa đàm diễn ra trong khuôn khổ chương trình khảo sát, nghiên cứu thực tế của Đoàn công tác Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh tại xã Quảng Sơn. Tham dự chương trình về phía địa phương có ông Nguyễn Đức Hải – Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn; đại diện Văn phòng UBND xã; cán bộ Hợp tác xã N’Jriêng; cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn; ông Bàn Văn Đại – cán bộ chuyên trách xã, đại diện cho tiếng nói cộng đồng; ông Trần Trọng Dưỡng – Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn cùng các đại biểu liên quan. Về phía Trường Đại học Văn hóa TP. HCM gồm có: TS. Lê Thị Thanh Thủy – Phó Hiệu trưởng Trường, Phó Ban Đào tạo Hiệp hội Du lịch (HHDL) TP. HCM; TS. Phạm Văn Luân – GVC Khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật, Trưởng nhóm nghiên cứu Du lịch Trường; TS. Nguyễn Hồ Phong – GV. Nhà sáng lập Câu lạc bộ Sinh viên Nghiên cứu khoa học Khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật Trường; Sinh viên Trần Thanh Toàn – Khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật Trường, Trưởng nhóm sinh viên nghiên cứu Cây Di sản ven sông; Bà Nguyễn Trà My – Giám đốc Công ty TNHH 1983 MEDIA, Uỷ viên Ban đào tạo HHDL TP. HCM; BF Nguyễn Khánh Ni – Học viên Cao học Khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật, Trường ĐH Văn hóa Tp. HCM. Đại diện đơn vị kết nối tại địa phương có ông Võ Duy Quang – Chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ – Thương mại và Du lịch Tà Đùng đang tâm huyết phát triển du lịch dược liệu tại Quảng Sơn.

Nguồn: Nguyễn Trà My, ngày 28/8/2026
Trước khi tham gia tọa đàm, đoàn nghiên cứu đã trực tiếp khảo sát tài nguyên rừng, thảm thực vật, hệ cây dược liệu và các mô hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn. Những quan sát từ thực địa trở thành cơ sở quan trọng để các đại biểu trao đổi sâu hơn về khả năng hình thành sản phẩm du lịch. Điểm đáng chú ý của buổi làm việc là các ý kiến không chỉ xoay quanh câu chuyện “Quảng Sơn có tài nguyên gì?”, mà tập trung vào câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để những tài nguyên ấy trở thành sản phẩm, tạo sinh kế cho người dân nhưng đồng thời vẫn bảo vệ được tài nguyên tự nhiên và bản sắc văn hóa địa phương?

Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026
ÔNG NGUYỄN ĐỨC HẢI: DU LỊCH PHẢI TRẢ LỜI ĐƯỢC BÀI TOÁN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
Phát biểu mở đầu tọa đàm, ông Nguyễn Đức Hải thay mặt lãnh đạo địa phương cảm ơn Hợp tác xã N’Jriêng, ông Võ Duy Quang cùng đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM đã kết nối, khảo sát và dành thời gian trao đổi với địa phương. Theo ông Nguyễn Đức Hải, Quảng Sơn có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đồng thời có đời sống văn hóa đa dạng với 25 dân tộc cùng sinh sống. Những điều kiện này để địa phương nghiên cứu phát triển các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp và du lịch gắn với văn hóa bản địa. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBND xã cũng thẳng thắn chỉ ra rằng tiềm năng hiện chưa chuyển hóa thành một mô hình du lịch hoàn chỉnh. Hoạt động du lịch trên địa bàn thời gian qua còn hạn chế và xã chưa xây dựng được một mô hình chính thức mang lại hiệu quả rõ rệt.
Từ thực tế đó, Ông đưa ra 5 câu hỏi cốt lõi cho quá trình phát triển du lịch của địa phương.
Thứ nhất, Quảng Sơn có những lợi thế đặc sắc nào?
Thứ hai, du khách đến Quảng Sơn sẽ được tham gia và trải nghiệm những gì?
Thứ ba, trong điều kiện là xã đặc biệt khó khăn, sản phẩm du lịch nào thực sự phù hợp với địa phương?
Thứ tư, ai sẽ là chủ thể cung cấp các dịch vụ du lịch?
Và cuối cùng, người dân địa phương sẽ nhận được lợi ích kinh tế như thế nào từ du lịch?
Những câu hỏi này không chỉ dành cho ngành du lịch mà còn là những vấn đề liên quan trực tiếp đến định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Quảng Sơn. Từ góc nhìn của chính quyền cơ sở, ông Nguyễn Đức Hải cho rằng phát triển du lịch cần có sự phối hợp giữa “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp – Hợp tác xã – Cộng đồng dân cư”, trong đó người dân phải được xác định là chủ thể trực tiếp tham gia và hưởng lợi. Địa phương mong muốn nhận được sự hỗ trợ về tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng những việc làm cụ thể có thể bắt tay triển khai trong thực tế.

Nguồn: Nguyễn Trà My, ngày 28/8/2026
QUẢNG SƠN CÓ NHỮNG NỀN TẢNG NÀO ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH?
Tại buổi tọa đàm, đại diện Văn phòng UBND xã trình bày khái quát tình hình kinh tế – xã hội và những điều kiện nền tảng của địa phương. Theo báo cáo, sau sắp xếp theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15, Quảng Sơn là xã vùng 3, thuộc diện đặc biệt khó khăn, có diện tích tự nhiên 45.454 ha, gồm 7 thôn, bon, trong đó 4/7 thôn, bon đặc biệt khó khăn; trên địa bàn có 25 dân tộc cùng sinh sống. Trong 6 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách của xã đạt 43 tỷ 559 triệu đồng, giải ngân vốn đầu tư công đạt 100%. Hạ tầng giao thông nhựa hóa đạt 100%; tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 89%; tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 85%.
Cùng với đó, địa phương đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế, từ lúa hiệu quả thấp sang khoai lang, rau củ, cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Năm 2026, xã đăng ký phát triển 433,64 ha rừng.
Từ những điều kiện đó, địa phương bước đầu xác định 3 trụ cột phát triển du lịch. Một là du lịch nông nghiệp – sinh thái, dựa trên các vùng chuyên canh và trang trại; Hai là du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa, gắn với văn hóa truyền thống, lễ hội, ẩm thực và đời sống cộng đồng; Ba là du lịch liên kết dược liệu và chăm sóc sức khỏe, tận dụng diện tích đất lâm nghiệp để nghiên cứu phát triển cây dược liệu dưới tán rừng.

ÔNG VÕ DUY QUANG: TỪ TUYẾN DU LỊCH ĐỊA CHẤT ĐẾN MÔ HÌNH TRẢI NGHIỆM NÔNG NGHIỆP
Từ phía đơn vị kết nối, ông Võ Duy Quang giới thiệu một số nội dung liên quan đến tổ chức tuyến điểm và những mô hình du lịch có thể nghiên cứu tại Quảng Sơn. Ông giới thiệu ba tuyến du lịch của Công viên Địa chất gồm “Trường ca của Lửa và Nước”, “Âm vang từ Trái đất” và “Bản giao hưởng của Làn gió mới”. Qua thực tế, các tour không nhất thiết vận hành theo tuyến cứng nhắc, một phần do thiếu hướng dẫn viên am hiểu sâu về địa phương và một số lịch trình chưa tối ưu. Điều này cho thấy nguồn nhân lực tại chỗ là một mắt xích quan trọng trong việc biến tài nguyên thành trải nghiệm.
Một mô hình khác được Ông chia sẻ là “Du lịch nông nghiệp không tốn tiền”, trong đó khách quốc tế từng được trải nghiệm lều trại, tham quan farm chanh dây, rau sạch; cuối tuần có hoạt động giao lưu, giáo dục với trẻ em thôn, bon và sau đó tham quan các danh thắng. Đây là cách tổ chức dựa nhiều vào những nguồn lực sẵn có của địa phương thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc đầu tư một tổ hợp du lịch quy mô lớn.
Ý tưởng “kinh tế bạc” và hướng nghỉ dưỡng dài ngày
Cũng tại tọa đàm, ông Quang chia sẻ ý tưởng về “kinh tế bạc”, hướng tới nhóm khách cao tuổi. Theo nội dung được trình bày, hợp tác xã của ông đang xúc tiến với đối tác Hàn Quốc để nghiên cứu mô hình nghỉ dưỡng dài hạn từ 3-6 tháng dành cho người cao tuổi Hàn Quốc tại Quảng Sơn, với mức chi phí khoảng 1.000 USD/tháng. Đây là hướng đang được xúc tiến và nghiên cứu, cho thấy cách tiếp cận về du lịch tại Quảng Sơn có thể mở rộng từ những tour tham quan ngắn ngày sang khả năng hình thành sản phẩm lưu trú, nghỉ dưỡng dài ngày gắn với thiên nhiên và chăm sóc sức khỏe.

Trà hoa Vàng Thạch Châu và bài toán xây dựng chuỗi giá trị
Ông Võ Duy Quang đề cập tới Trà hoa Vàng Thạch Châu như một tài nguyên đặc biệt của khu vực rừng Quảng Sơn cùng với TS. Phạm Văn Luân đã có những bước đầu định hướng nghiên cứu, phát triển loại trà này. Theo thông tin được chia sẻ tại tọa đàm, hiện toàn khu vực đã kiểm đếm khoảng 80-90 cây. Nội dung trao đổi đặt vấn đề về việc quy hoạch bảo tồn và hoàn thiện các điều kiện pháp lý để từng bước nghiên cứu “thương mại hóa, phát triển sản phẩm từ lá trà sấy khô. TS. Phạm Văn Luân trao đổi: bảo tồn và phát triển cần được đặt trong cùng một chuỗi: kiểm kê – bảo tồn – nghiên cứu nhân giống – chế biến – phát triển sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào khai thác nguyên liệu.

Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026
TS. LÊ THỊ THANH THỦY: QUẢNG SƠN CẦN MỘT ĐỀ ÁN TỔNG THỂ VÀ SẢN PHẨM CÓ BẢN SẮC RIÊNG
Từ phía nhà trường, TS. Lê Thị Thanh Thủy cảm ơn sự đón tiếp của lãnh đạo địa phương và sự kết nối của ông Võ Duy Quang. Theo TS. Lê Thị Thanh Thủy, định hướng của nhà trường là đào tạo gắn với ứng dụng, trong đó nghiên cứu phải đi đôi với trải nghiệm thực tế và hướng tới những giải pháp có khả năng góp phần giải quyết trực tiếp những khó khăn mà địa phương đang đặt ra. Qua chuyến khảo sát, đoàn nghiên cứu nhận thấy Quảng Sơn và khu vực phụ cận có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng. Tuy nhiên, những lợi thế ấy hiện chưa được quy hoạch và tổ chức thành hệ thống sản phẩm du lịch hoàn chỉnh; hoạt động du lịch vẫn còn ở dạng sơ khai.
Một vấn đề được TS. Lê Thị Thanh Thủy đặc biệt lưu ý là bản sắc của sản phẩm du lịch. Theo bà, nếu Quảng Sơn chỉ sao chép những mô hình mà các địa phương khác đã triển khai, nguy cơ sản phẩm thiếu khác biệt là rất lớn. Một điểm đến muốn tạo sức hút lâu dài phải xác định được những giá trị riêng, từ đó hình thành trải nghiệm có tính đặc thù. Vấn đề quy hoạch cũng được đặt ra trong cuộc trao đổi, trong đó có những vướng mắc liên quan đến quy hoạch bô-xít có thể ảnh hưởng tới khả năng bố trí quỹ đất cho hạ tầng, công trình văn hóa và du lịch.
Từ đó, TS. Lê Thị Thanh Thủy đề xuất Quảng Sơn cần nghiên cứu xây dựng một Đề án/Dự án tổng thể về phát triển du lịch bền vững, đồng thời phân kỳ triển khai theo từng giai đoạn. Những việc có thể làm trước mắt cần được xác định rõ, trong khi chiến lược dài hạn có thể tính theo khoảng 5-10 năm, nhằm tạo ra một lộ trình phát triển có tính liên tục thay vì triển khai rời rạc. Về phía Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh và Hiệp hội Du lịch TP.HCM, đoàn công tác cho biết sẵn sàng tiếp tục đồng hành thông qua việc kết nối chuyên gia, tư vấn, định hướng chiến lược và đưa sinh viên lên thực địa hỗ trợ cộng đồng.

TS. PHẠM VĂN LUÂN: KHAI THÁC TÀI NGUYÊN PHẢI ĐI CÙNG BẢO VỆ GIÁ TRỊ CỦA VÙNG ĐẤT
TS. Phạm Văn Luân tiếp cận địa phương dựa trên mối liên hệ giữa nhiều lớp giá trị như rừng, thảm thực vật, cây dược liệu – cây Di sản, đất đai, thổ nhưỡng, sông suối, tri thức bản địa sản xuất nông nghiệp và đời sống cộng đồng. Theo ông, nhìn nhận tài nguyên địa phương không nên dừng ở việc xác định “có gì để khai thác”, mà cần xem xét tài nguyên đang tồn tại trong một hệ thống như thế nào, có giá trị gì đối với cộng đồng và khả năng khai thác đến đâu mà không làm tổn thương cấu trúc vốn có của vùng đất theo tinh thần sống “thuận thiên”.

Nguồn: Nhóm NCCDS, ngày 28/8/2026
Từ góc nhìn đó, câu chuyện phát triển du lịch tại Quảng Sơn không đơn thuần là đưa du khách đến với rừng hay các khu vực có cảnh quan tự nhiên. Điều quan trọng hơn là phải xác định mức độ khai thác phù hợp, cách tổ chức tuyến trải nghiệm, quy mô hạ tầng và phương thức tiếp cận tài nguyên. Nếu phát triển thiếu kiểm soát, chính những hoạt động phục vụ du lịch như mở rộng đường đi, xây dựng công trình, gia tăng lượng khách hoặc khai thác quá mức có thể làm biến đổi cảnh quan và ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Vì vậy, phát triển du lịch cần được đặt trong giới hạn chịu tải của tài nguyên và điều kiện thực tế của địa phương.

Nguồn: Võ Duy Quang, ngày 29/8/2026
TS. Phạm Văn Luân cũng cho rằng sức hấp dẫn của du lịch trải nghiệm không chỉ nằm ở việc “có một khu rừng”, mà được hình thành từ chất lượng của toàn bộ hệ sinh thái trải nghiệm. Đó là sự kết hợp giữa cảnh quan, mức độ nguyên sơ, tuyến di chuyển, khả năng quan sát thảm thực vật, câu chuyện về vùng đất, về cây cổ thụ, cây di sản, thảm thực vật gắn với ký ức con người cùng kiến thức của người hướng dẫn và những hoạt động mà du khách có thể trực tiếp tham gia. Khi các yếu tố này được kết nối hợp lý, tài nguyên tự nhiên không còn chỉ là một điểm đến để tham quan, mà trở thành không gian để du khách tìm hiểu, trải nghiệm và hình thành sự gắn kết với địa phương. Cách tiếp cận này đồng thời đặt cộng đồng vào vị trí quan trọng trong quá trình phát triển. Bởi những giá trị của Quảng Sơn không chỉ nằm trong tự nhiên mà còn được lưu giữ qua tri thức sản xuất, kinh nghiệm canh tác, cách sử dụng cây cối, sản vật địa phương và những câu chuyện gắn với đời sống của người dân. Nếu biết nhận diện và tổ chức những giá trị ấy thành nội dung trải nghiệm phù hợp, cộng đồng không chỉ là đối tượng hưởng lợi từ du lịch mà còn có thể trở thành chủ thể tham gia gìn giữ, diễn giải và truyền tải giá trị của vùng đất.
Từ đó, quan điểm của TS. Phạm Văn Luân cho thấy một yêu cầu quan trọng đối với Quảng Sơn: khai thác tài nguyên phải đi cùng bảo vệ tài nguyên, phát triển du lịch phải đi cùng bảo tồn những giá trị làm nên bản sắc địa phương. Mục tiêu cuối cùng không phải là khai thác càng nhiều càng tốt, mà là tìm được phương thức để tài nguyên được sử dụng có trách nhiệm, tạo sinh kế và trải nghiệm cho du khách, đồng thời vẫn duy trì được cảnh quan, hệ sinh thái và những giá trị đặc hữu của vùng đất trong dài hạn.

Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026
TS. NGUYỄN HỒ PHONG: KHÔNG GIAN RỪNG, NÔNG NGHIỆP VÀ TRÀ THẠCH CHÂU HOA VÀNG CÓ THỂ TẠO THÀNH CHUỖI TRẢI NGHIỆM
Tiếp nối những vấn đề được đặt ra, TS. Nguyễn Hồ Phong chia sẻ nhiều nhận định sau quá trình đoàn trực tiếp khảo sát tại địa phương. Ông đánh giá cao tài nguyên rừng của Quảng Sơn. Đoàn đã đi bộ khảo sát khoảng 3 km trong rừng, qua đó có điều kiện quan sát trực tiếp không khí, thảm thực vật và cảnh quan tự nhiên. Từ kết quả khảo sát, TS. Nguyễn Hồ Phong tập trung vào ba nhóm tiềm năng.
Du lịch trải nghiệm phải đi cùng bảo vệ cảnh quan
Theo ông, những cánh rừng còn tương đối nguyên sơ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch trải nghiệm. Tuy nhiên, vấn đề giao thông kết nối và tuyến đường vào rừng phải được tính toán cẩn trọng để không làm phá vỡ cảnh quan tự nhiên. Điều đó đặt ra yêu cầu cân bằng giữa việc tạo điều kiện để du khách tiếp cận tài nguyên và yêu cầu bảo tồn tài nguyên.
Du lịch nông nghiệp không thể chỉ là đi tham quan rồi mua nông sản
TS. Nguyễn Hồ Phong nhận định đất đai ở Quảng Sơn rất tơi xốp, nhiều loại cây như cà phê, hồ tiêu, mắc ca phát triển tốt. Tuy nhiên, theo ông, nếu chỉ đưa du khách đến vườn để tham quan và mua nông sản thì chưa đủ để hình thành một sản phẩm du lịch nông nghiệp đúng nghĩa. Điểm cốt lõi của du lịch nông nghiệp là đưa du khách tham gia trực tiếp vào chuỗi hoạt động sản xuất cùng người nông dân. Từ góc nhìn này, người nông dân không chỉ là người sản xuất ra nông sản mà còn có thể trở thành người cung cấp trải nghiệm, câu chuyện và dịch vụ cho du khách.
Trà Thạch Châu hoa Vàng cần được bảo tồn trước khi tính đến khai thác
Một nội dung quan trọng khác được TS. Nguyễn Hồ Phong nhấn mạnh là cây Trà Thạch Châu hoa Vàng. Theo ông, xã cần quan tâm tới việc quy hoạch vùng bảo tồn nguyên vị, đồng thời nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học như chiết, ghép, cấy mô để nhân giống hiệu quả. Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu bảo tồn cần được đặt song song với nghiên cứu phát triển sản phẩm, tránh việc khai thác làm ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên tự nhiên hiện có.

Nguồn: Trần Thanh Toàn, ngày 28/8/2026
ÔNG BÀN VĂN ĐẠI: NẾU CỘNG ĐỒNG KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG LỢI, DU LỊCH KHÓ BỀN VỮNG
Một tiếng nói đặc biệt quan trọng tại tọa đàm đến từ ông Bàn Văn Đại, cán bộ chuyên trách xã Quảng Sơn, người đại diện cho góc nhìn cộng đồng. Từ kinh nghiệm thực tế, ông chia sẻ những bài học từ các mô hình du lịch cộng đồng ở Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang và làng người Lô Lô ở Bảo Lạc, Cao Bằng.
Theo ông, khi phát triển du lịch cộng đồng, người dân phải trực tiếp được hưởng lợi thông qua các hoạt động như cung cấp ẩm thực, bán sản phẩm địa phương và tham gia các dịch vụ phục vụ du khách. Đáng chú ý, ông Bàn Văn Đại cũng chỉ ra những khó khăn trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống.
Một số bộ cồng chiêng tại các bon làng đã bị bán. Số lượng nghệ nhân còn biết đánh cồng chiêng, hát dân ca ngày càng ít. Trong khi đó, phần lớn người dân vẫn phải ưu tiên sinh kế và lao động sản xuất. Theo ông, nếu huy động người dân tham gia các hoạt động biểu diễn văn hóa mà không có hỗ trợ phù hợp cho ngày công, họ sẽ phải lựa chọn công việc tạo thu nhập ổn định hơn. Ông đưa ra mức khoảng 300.000 đồng/ngày như một ví dụ về khoản hỗ trợ cần được tính đến.Từ thực tế đó, ông đề nghị nhà trường và chính quyền hỗ trợ mở các lớp truyền dạy đánh cồng chiêng và văn hóa dân gian cho thế hệ trẻ. Ý kiến này đặt vấn đề rất rõ: muốn dùng văn hóa để làm du lịch, trước hết phải bảo vệ được chủ thể văn hóa và tạo điều kiện để các giá trị ấy tiếp tục được thực hành, trao truyền.
Ở góc độ quản lý rừng, ông Trần Trọng Dưỡng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn, cho biết đơn vị có chức năng quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.Liên quan đến định hướng phát triển du lịch, Công ty đã xây dựng Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng dưới tán rừng trong phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2021-2030. Theo chia sẻ tại tọa đàm, đề án đang trong giai đoạn thẩm định lần thứ ba để chuẩn bị phê duyệt.
Ông Trần Trọng Dưỡng cho biết đơn vị sẵn sàng phối hợp với hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà trường để nghiên cứu phát triển các mô hình dược liệu dưới tán rừng, trong đó có lá bép, chè dây và Trà Thạch Châu. Mục tiêu được đặt ra là vừa tạo thêm sinh kế cho người dân, vừa giảm áp lực đối với tài nguyên rừng.
Bổ sung những đề xuất phát triển kinh tế dưới tán rừng, đại diện Kiểm lâm địa bàn nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ pháp luật về lâm nghiệp. Theo ý kiến tại tọa đàm, kể cả việc phát quang bụi rậm để trồng rau rừng như lá bép hoặc đưa cây dược liệu vào trồng dưới tán rừng cũng phải được thực hiện theo đúng quy định. Đơn vị chủ trì phải lập phương án hoặc đề án cụ thể, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải có sự đồng ý của chủ rừng; không được tự ý vào rừng phát dọn hoặc tổ chức hoạt động sản xuất. Nội dung này bổ sung một nguyên tắc quan trọng cho định hướng du lịch sinh thái của Quảng Sơn: khai thác tài nguyên phải đi cùng quản lý và bảo tồn tài nguyên.
TỪ TÀI NGUYÊN ĐẾN SẢN PHẨM: QUẢNG SƠN CẦN MỘT CHUỖI LIÊN KẾT


Nguồn: Võ Duy Quang và nhóm tác giả tham luận, ngày 28/8/2026
Tổng thuật ý kiến tại tọa đàm, đặc biệt là từ bài tham luận Phát triển du lịch nông nghiệp – văn hóa và sinh thái cảnh quan: kết nối bảo vệ, quảng bá và phát huy giá trị di sản không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO được chọn chia sẻ của nhóm tác già do Sinh viên Trần Thanh Toàn trình bày, chúng tôi nhận thấy: Quảng Sơn đang có nhiều nhóm tài nguyên có thể tiếp tục nghiên cứu: Đó là rừng và cảnh quan tự nhiên; Đó là nông nghiệp và các vùng sản xuất; Đó là cây dược liệu và Trà Thạch Châu hoa Vàng; Đó là văn hóa của 25 dân tộc cùng sinh sống; Đó là những không gian cộng đồng, ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật dân gian và các giá trị văn hóa truyền thống gắn với Công viên địa chất Toàn cầu UNESCO Đăk Nông…

Nguồn: Nhóm NCCDS, ngày 28/8/2026
Nhưng các đại biểu đồng thời cho thấy một thực tế: có tài nguyên chưa đồng nghĩa với có sản phẩm du lịch. Để trở thành sản phẩm, tài nguyên cần được nghiên cứu, tổ chức, kể thành câu chuyện, đưa vào trải nghiệm và gắn với một cơ chế tạo sinh kế. Đây là lý do việc liên kết giữa các bên được nhắc tới xuyên suốt buổi tọa đàm.
Chính quyền có vai trò quy hoạch, quản lý và tạo điều kiện.
Nhà trường đảm nhiệm vai trò nghiên cứu, đào tạo, kết nối tri thức và chuyên gia.
Doanh nghiệp tham gia phát triển sản phẩm và thị trường.
Hợp tác xã tổ chức sản xuất, kết nối dịch vụ.
Cộng đồng là chủ thể cung cấp nhiều giá trị trải nghiệm và trực tiếp hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Một sản phẩm du lịch chỉ có khả năng tồn tại lâu dài khi các mắt xích ấy được kết nối với nhau. Điều Quảng Sơn cần lúc này không chỉ là một điểm du lịch Từ những trao đổi tại tọa đàm, có thể thấy Quảng Sơn chưa nên chỉ được nhìn dưới góc độ “tạo ra một điểm đến”. Điều địa phương cần hướng tới là xây dựng một hệ thống trải nghiệm dựa trên chính tài nguyên bản địa.
Một cánh rừng có thể trở thành không gian khám phá và giáo dục môi trường.
Một trang trại có thể trở thành lớp học nông nghiệp.
Một vùng trà có thể trở thành không gian nghiên cứu và trải nghiệm dược liệu.
Một món ăn truyền thống có thể trở thành câu chuyện về văn hóa.
Một bộ cồng chiêng có thể trở thành ký ức sống của cộng đồng nếu được bảo tồn và trao truyền.
Nhưng tất cả những giá trị đó chỉ có thể phát triển lâu dài nếu việc khai thác không làm mất đi bản chất của tài nguyên. Đó chính là điểm gặp nhau giữa các nhóm ý kiến tại tọa đàm: phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn, sinh kế và cộng đồng. Một đề án dài hạn cần được đặt trên nền tảng khảo sát thực tế từ góc nhìn của nhà trường và chính quyền địa phương, một trong những hướng quan trọng sau buổi tọa đàm là tiếp tục nghiên cứu để xây dựng một đề án phát triển du lịch tổng thể. Đề án đó cần xác định rõ tài nguyên, không gian, sản phẩm, thị trường, nguồn nhân lực, hạ tầng, cơ chế tham gia của cộng đồng và các yêu cầu pháp lý. Trong ngắn hạn, địa phương có thể tiếp tục rà soát, kiểm kê tài nguyên và lựa chọn những mô hình có khả năng thử nghiệm. Trong dài hạn, cần có chiến lược phát triển khoảng 5-10 năm, đúng với định hướng được TS. Lê Thị Thanh Thủy đặt ra tại buổi làm việc.
Đối với du lịch rừng, cần nghiên cứu tuyến trải nghiệm phù hợp, giới hạn khai thác và phương án bảo vệ cảnh quan.
Đối với du lịch nông nghiệp, cần xây dựng những trải nghiệm mà du khách thực sự được tham gia vào quy trình sản xuất.
Đối với dược liệu, cần ưu tiên bảo tồn, kiểm kê, nghiên cứu khoa học, nhân giống và hoàn thiện các điều kiện pháp lý.
Đối với văn hóa cộng đồng, cần chú trọng nghệ nhân, không gian văn hóa và thế hệ kế cận.
Đối với nguồn nhân lực, cần đào tạo người địa phương có khả năng vừa hiểu tài nguyên, vừa có kỹ năng tổ chức và thuyết minh trải nghiệm.

Nguồn: Nguyễn Trà My, ngày 28/8/2026
Buổi tọa đàm tại UBND xã Quảng Sơn không đưa ra một mô hình duy nhất và cũng không thể ngay lập tức giải quyết tất cả các vấn đề của địa phương. Điều đáng chú ý hơn là các bên đã cùng nhau đặt những câu hỏi thực chất về tương lai du lịch của Quảng Sơn. Quảng Sơn có lợi thế gì? Du khách sẽ trải nghiệm điều gì? Ai sẽ làm du lịch? Người dân nhận được lợi ích gì? Làm thế nào để khai thác tài nguyên mà không làm mất đi chính tài nguyên ấy? Những câu hỏi ấy, cùng với các ý kiến của chính quyền, nhà trường, hợp tác xã, doanh nghiệp, lực lượng quản lý rừng và cộng đồng, đang tạo ra một khung tư duy ban đầu cho quá trình nghiên cứu phát triển du lịch tại Quảng Sơn.

Nguồn: Nguyễn Trà My, ngày 28/8/2026
Chặng đường để những ý tưởng ấy trở thành sản phẩm cụ thể còn cần thêm nghiên cứu, quy hoạch, đào tạo, nguồn lực và sự phối hợp của nhiều bên. Nhưng nền tảng quan trọng đã được đặt ra: phát triển du lịch Quảng Sơn phải bắt đầu từ việc hiểu đúng giá trị của vùng đất, bảo vệ những tài nguyên đang có, tạo ra trải nghiệm có bản sắc và quan trọng nhất là bảo đảm người dân địa phương thực sự trở thành một phần của quá trình phát triển. Đó cũng là cơ sở để những chương trình nghiên cứu, khảo sát và hợp tác giữa chính quyền địa phương, Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh, các chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng có thể tiếp tục được triển khai trong thời gian tới. Được biết ngay sau Tọa đàm, TS. Phạm văn Luân đã có cuộc làm việc và chuyển giao một số mẫu vật Trà Thạch Châu hoa Vàng cho Nghệ nhân Trà Quốc gia Dương Thị Lệ – Trà chủ An Nhơm Trà phối hợp nghiên cứu cùng địa phương tiến tới phương án “thương mại hóa” Trà Thạch Châu hoa Vàng ở Quảng Sơn trong tương lai…
Đoàn nghiên cứu Trường Đại học Văn hóa TP. HCM trân trọng cảm ơn UBND xã Quảng Sơn, ông Nguyễn Đức Hải – Phó Chủ tịch UBND xã, cùng anh Võ Duy Quang – người đã kết nối Đoàn với chính quyền và người dân hai địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến đi thực địa. Đoàn xin cảm ơn người dân địa phương, doanh nghiệp và các cá nhân đã hỗ trợ, chia sẻ thông tin, tư liệu và đồng hành cùng Đoàn trong quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, trân trọng cảm ơn chương trình Tọa đàm đã tạo không gian kết nối, trao đổi và chia sẻ những góc nhìn giá trị về tài nguyên, văn hóa và định hướng phát triển địa phương.
Trân trọng cảm ơn sự đồng hành và hỗ trợ quý báu của tất cả quý vị!
Sinh viên Trần Thanh Toàn
Trưởng nhóm nghiên cứu Cây Di sản Việt Nam
Trường Đại học Văn hóa TP. HCM
CTV Nhóm Sáng tạo Trẻ Bến Tre