
Kết hợp tư liệu xưa và trải nghiệm thực tế, chương trình “Nếp nhà xưa – Mạch sống người Việt” mở màn với chủ đề “Tiền nhân lập chợ”, đã thu hút đông đảo khán giả tham dự, đặc biệt là giới trẻ muốn tìm hiểu về nguồn cội và văn hóa chợ xưa.

Sáng 27.9 tại TP.HCM, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp cùng Hội quán Các bà mẹ và Trung tâm Văn hóa Nếp Xưa tổ chức khai mạc triển lãm và tọa đàm “Tiền nhân lập chợ”. Chương trình do nhà báo Lê Minh Hạ điều phối, với sự góp mặt của các chuyên gia: TS Bùi Việt Thành (Khoa Văn hóa học, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM), TS Phạm Văn Luân (Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trường ĐH Văn hóa TP.HCM), TS Nguyễn Thị Trúc Bạch (Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Hội nhập, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nam Bộ) và nhà báo Cù Mai Công, tác giả của nhiều tác phẩm hoài niệm về Sài Gòn.
Từ những tư liệu lưu trữ quý giá cùng câu chuyện về các ngôi chợ xưa, tọa đàm đã mở ra nhiều góc nhìn thú vị: chợ không chỉ là không gian mua bán kinh tế mà còn là một thiết chế văn hóa – xã hội gắn liền với quá trình cộng cư, nơi hình thành nếp sinh hoạt, chữ tín và sự gắn kết cộng đồng của người Việt.
Sự hình thành chợ truyền thống qua góc nhìn lịch sử và văn hóa
Mở đầu chương trình, bàn về nguồn gốc ra đời của chợ Việt Nam, TS Phạm Văn Luân đã chia sẻ bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của hệ thống chợ truyền thống dưới góc độ lịch sử kinh tế – xã hội.
Theo ông, từ thời kỳ tiền sử, sơ sử và Bắc thuộc, mầm mống trao đổi hàng hóa đã manh nha. Đến thời nhà Lý – Trần, khi kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển mạnh, các đô thị thương mại bắt đầu xuất hiện chợ chuyên doanh. Tới giai đoạn thế kỷ XVI – XIX, chợ làng, chợ huyện, chợ phủ mọc lên dày đặc khắp Bắc Bộ và Trung Bộ, gắn liền với sự phân công lao động xã hội và các làng nghề thủ công truyền thống.
TS Phạm Văn Luân nhấn mạnh rằng chợ truyền thống Việt Nam mang đậm dấu ấn “làng xã”: “Chợ làng Việt Nam ra đời như một tế bào kinh tế tự trị nhưng gắn kết chặt chẽ với cấu trúc huyết thống và không gian văn hóa của cộng đồng nông thôn.” Sự ra đời ấy được thúc đẩy bởi sự dư thừa sản phẩm khi công cụ lao động bằng kim loại phát triển, sự tách rời giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, cùng với mạng lưới giao thông thủy chi chít đặc trưng của vùng sông nước Việt Nam.
Chợ xưa và những quy định pháp lý: Bài học về “chữ tín” và quản lý nhà nước
Trả lời câu hỏi được xem là “từ khóa” của Tọa đàm: – “Trong lịch sử, hoạt động mua bán ở chợ không phải hoàn toàn tự phát mà từng được điều chỉnh bởi những quy định của nhà nước. Ông có thể chia sẻ một vài quy định tiêu biểu liên quan đến hoạt động buôn bán, giao dịch ở chợ trong các thời kỳ lịch sử? Những quy định ấy cho chúng ta thấy điều gì về cách xã hội xưa nhìn nhận hoạt động mua bán?” TS Phạm Văn Luân cho biết hoạt động thị trường trong lịch sử nước ta chưa bao giờ là không gian “vô pháp”. Triều đình các thời kỳ luôn duy trì luật pháp và hương ước chặt chẽ.
Về không gian và thời gian: Dưới triều Lê (Quốc triều hình luật / Luật Hồng Đức), chợ phải họp ở địa điểm cố định được phép; việc tự ý lập chợ bừa bãi hay họp sai giờ đều bị khép vào tội vi phạm kỷ cương, với các quan quản lý chợ gọi là Thị quan hoặc Cai thị.
Về đo lường và chống gian lận: Nhà nước phong kiến quy định ngặt nghèo về cân, đong, đấu, thước. Thương nhân bắt buộc phải dùng dụng cụ đo lường có đóng dấu kiểm định. Hành vi bán gian, cân thiếu bị trừng phạt nghiêm khắc.
Về phân định khu vực và thuế chợ: Các phường thủ công, thương nghiệp được quy hoạch riêng biệt; các mặt hàng chiến lược chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước kèm theo hệ thống tô thuế thương nghiệp rõ ràng.
Từ những quy định này, TS Phạm Văn Luân đúc kết ba nhận định về cách xã hội xưa nhìn nhận thương mại: Thương nghiệp là huyết mạch kinh tế nhưng cần được kiềm chế để tránh bất ổn; xã hội luôn đề cao đạo đức thương mại và sự công bằng (trọng nghĩa khinh lợi) và nhà nước đóng vai trò “trọng tài tối cao” bảo vệ người tiêu dùng, duy trì trật tự cộng đồng.

TS. Phạm Văn Luân bên gian trưng bày sách về Chợ Sài Gòn xưa của Triển lãm.
Vì sao chợ thường lập bởi đàn ông nhưng tên chợ lại gắn với các bà?
Một trong những câu chuyện và câu hỏi thú vị tại tọa đàm là vì sao việc lập chợ thường do đàn ông đứng ra đảm đương, nhưng tên chợ đôi khi lại gắn liền với phụ nữ.
Giải thích vấn đề này, TS Phạm Văn Luân sau khi kể tên các chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hoa, chợ Bà Điểm (TP. HCM), chợ cầu Bà Mụ (Bến Tre cũ)… cho biết: “Việc thiết lập chợ do các ông đứng ra đảm đương nhưng tên chợ thường đứng tên… các bà. Đây không phải là sự bình đẳng giới theo nghĩa hiện đại, mà xuất phát từ việc người đàn ông khi đó có nguồn lực vững hơn, công sức nhiều hơn và họ tự đứng ra thuê người xây dựng chợ.” Trong khi nam giới gánh vác việc dựng chợ, thì phần lớn hoạt động buôn bán, duy trì giao thương hàng ngày lại do phụ nữ đảm nhiệm. Dần dà, dấu ấn của “các bà” trong đời sống và tên gọi của nhiều ngôi chợ trở nên vô cùng gần gũi.

Câu chuyện lịch sử: “Ông già Ba Tri” và hành trình đấu tranh vì thương hồ miền sông nước
Một trong những điểm nhấn lịch sử thu hút nhiều sự quan tâm nhất tại tọa đàm chính là câu chuyện về “ông già Ba Tri” – nhân vật có thật trong sử sách vùng đất Bến Tre, qua những tư liệu được mang đến chương trình.
Theo đó, “ông già Ba Tri” tên thật là Thái Hữu Kiểm, giữ chức Hương Cả làng An Bình Đông. Khoảng năm Gia Long thứ 5 (1806), thấu hiểu nỗi vất vả của người dân và thương hồ trong việc đi lại, buôn bán, ông đã tự đứng ra lập nên chợ An Bình Đông (còn gọi là chợ Trong) nằm bên bờ rạch Ba Tri nhằm tạo “bến đỗ” giao thương thuận lợi.
Thế nhưng, khi chợ ngày càng sầm uất, ông Xã Hạc – chủ một khu chợ cạnh tranh gần đó (chợ Ngoài) vì ganh ghét đã cho đốn cây, đắp đập chặn ngang dòng rạch cô lập chợ Trong, bít đường ra vào của ghe thuyền thương hồ. Trước cảnh ngang trái đó, dẫu tuổi cao sức yếu, ông Thái Hữu Kiểm vẫn một mực chống gậy, đi chân trần lặn lội ra tận kinh đô Huế để dâng sớ kêu oan.
Cảm động và phẫn nộ trước sự việc, vua Minh Mạng đã đưa ra phán quyết anh minh: “Làng thì riêng, rạch thì chung, quan cai trị phải xuống coi phá đập”. Nhờ chiếu chỉ của nhà vua, chính quyền địa phương buộc phải phá bỏ đập nước, khơi thông dòng chảy để ghe thuyền tiếp tục tấp nập giao thương. Từ đó, chợ Ba Tri còn mang thêm cái tên dân dã là chợ Đập. Cảm phục trước khí phách, sự kiên cường và lòng vì dân của ông, người đời kính trọng gọi ông với hai tiếng thân thương: “ông già Ba Tri”.

Ông Thái Hữu Kiểm – “ông già Ba Tri” – người sáng lập chợ An Bình Đông
Dấu ấn thời gian: Từ chợ Ba Tri, chợ Bến Thành, Tân Định đến chợ Ông Tạ
Bên cạnh câu chuyện về chợ Ba Tri, tọa đàm cũng dẫn dắt người xem đi qua nhiều không gian ký ức đô thị khác:
Chợ Ông Tạ cũ (Tân Sơn Hòa): Tồn tại từ năm 1954 đến đầu thập niên 1990, qua lời kể của nhà báo Cù Mai Công, ngôi chợ hình thành từ chính nhu cầu gắn kết của bà con người Nam cố cựu và lưu dân di cư. Dù ẩm thực miền Bắc chiếm ưu thế trong khu nhà lồng rộng lớn, nơi đây vẫn dung hòa khéo léo các hương vị Trung – Nam, minh chứng cho sự giao thoa văn hóa đặc sắc của Sài Gòn.
Chợ Bến Thành và chợ Tân Định: Gắn liền với các cột mốc lịch sử qua hệ thống tư liệu lưu trữ phong phú, cho thấy sự phát triển không ngừng của đô thị phương Nam qua hàng thế kỷ.
Kết nối “nếp nhà xưa” vào đời sống hiện đại
Ở phần cuối chương trình, khi bàn về sự chuyển dịch của giá trị gia đình vào xã hội, TS Phạm Văn Luân cho rằng những giá trị cốt lõi của gia đình truyền thống như đạo hiếu, tôn trọng thứ bậc, tinh thần trách nhiệm, lễ nghĩa và danh dự gia đình chính là nền tảng hình thành nhân cách khi mỗi người bước ra xã hội.
Khép lại buổi tọa đàm, các diễn giả đồng thuận rằng dẫu xã hội hiện đại có nhiều thay đổi với sự lên ngôi của thương mại điện tử và siêu thị, những giá trị cốt lõi từ “nếp nhà xưa” cùng không gian nhân văn của “Chợ truyền thống” vẫn giữ nguyên sức sống bền bỉ. Chợ là sợi dây kết nối tình thân, giữ gìn chữ tín và nuôi dưỡng tâm hồn người Việt qua nhiều thế hệ.
Một số hình ảnh tại sự kiện:





Bảo Ngọc, STT (có sử dụng tư liệu của đồng nghiệp, ảnh: Hải Đăng, Thanh Tuyền)